17:58 ICT Thứ sáu, 20/04/2018
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non

Người Cao Lao Hạ»Nghệ thuật

Cảnh Giang (Nguyễn Tiến Chung)

Thứ tư - 05/01/2011 17:49
Người thầy giáo kết nghĩa với người dưới mộ

 

Hè năm 2010 Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình tổ chức trại sáng tác bên bờ biển Nhật Lệ. Mười lăm hội viên trong ngành giáo dục được mời về dự trại. Đây là trại viết dành riêng cho các thầy cô giaó. Mặc dù đã nghỉ hưu nhưng nhà thơ Cảnh Giang rất khoái gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp. Anh đến chơi với anh em chúng tôi hai ngày. Buổi tối mấy anh em rủ nhau ra hóng gió ngoài bãi biển. Nhà văn Hoàng Thái Sơn cao hứng giới thiệu nhà thơ Hải Kì đọc bài thơ tình được chọn vào cuốn “ Hai trăm năm lục bát Việt Nam”. Nhà thơ Lí Hoài Xuân giới thiệu Cảnh Giang đọc bài “kết nghĩa với người dưới mộ”. Anh đề nghị Cảnh Giang giải thích lí do vì sao anh lại “kết nghĩa với người dưới mộ”.  

       

Cảnh Giang sinh ra bên dòng sông Gianh lịch sử. Làng Thanh Trạch quê anh đã trải qua bao cuộc binh đao từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh. Ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh phá hoại, giặc Mỹ đã tập trung đánh phá cảng Gianh. Chúng trút bom đạn xuống bến phà hòng cắt đứt huyết mạch giao thông quan trọng tiếp sức cho chiến trường Miền Nam trên tuyến đường quốc lộ 1A. “Tất cả cho tiền tuyến”, “xe chưa qua nhà không tiếc”, những khẩu hiệu được viết bằng máu của Đảng bộ và nhân dân hai xã Quảng Phúc (Quảng Trạch), Thanh Trạch (Bố Trạch – Quảng Bình). Quân dân hai bờ sông Gianh đã dựng lên “lũy thép sông Gianh” kiên cường để đi vào huyền thoại. Chính những ngày máu lửa đó, cậu học trò Nguyễn Tiến Chung đã cùng dân quân trong xã cứu thương, tải đạn, bốc dỡ hàng hóa về trạm trung chuyển cảng Gianh. Anh đã trực tiếp chôn cất những người bạn học thân yêu của mình, những bà con trong làng Thanh Trạch, những thanh niên xung phong phục vụ bến phà bị bom Mỹ sát hại. Giặc Mỹ điên cuồng đánh phá cảng Gianh, chúng tăng tần suất đánh phá các tuyến đường về bến. Thực hiện chủ trương của Bộ tư lệnh quân khu bốn, Ty giao thông Quảng Bình đã mở nhiều đường nhánh để phá vỡ thế độc đạo, tránh sự công kích của địch. Bến phà 2 mở cách bến cũ chừng năm cây số về phía tây.

   

Mùa hè năm 1966, đang học lớp tám, anh đã cùng người chị gái là Nguyễn Thị Minh Hoa tham gia chiến dịch “Tên lửa vượt sông Gianh”. Suốt ba đêm từ 23 đến 25 tháng 8 năm 1966, lực lượng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, tập trung về địa bàn xã Hạ Trạch để thông đường. Ban ngày họ vào rừng Ba Trại chặt cây, bó lá, đào đất đá sẵn, đêm đêm tất cả lên mặt đường từ bến phà 2 vào dốc Ba Trại, lấp ngầm, san lấp hố bom cho những quả tên lửa lần đầu tiên vượt sông Gianh. Không khí hối hả đó bị máy bay trinh sát ban đêm của địch chụp ảnh được. Chúng huy động các loại máy bay, bắn pháo sáng từ đầu hôm đến sáng. Chúng ném bom sát thương bắn đạn 20 li và thả bom bi lên đoạn đường gần hai cây số. Mặc dù trong suốt ba đêm, đêm nào cũng có thương vong, nhưng các chị, các anh vẫn dũng cảm bám mặt đường. Khẩu hiệu “ sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm” như một mệnh lệnh, một lời hịch thôi thúc kêu gọi của Tổ quốc, non sông.

 

Đêm 25 tháng 8 năm 1966. Mới tối đến các loại máy bay địch đã có mặt, chúng gầm rú, lồng lộn suốt đêm, hết bắn rốc két, đạn 20 li lại rải bom bi xuống toàn bộ tuyến đường. Lợi dụng pháo sáng, các công nhân kéo phà từ nơi trú ẩn về bến ghép ba chiếc làm thành cầu phao để chở những quả tên lửa nặng hơn 18 tấn qua sông. Hơn 22 giờ đêm, những chiến sỹ lái phà cảm tử đã đưa được quả tên lửa đầu tiên cập bến giữa tiếng hò reo náo động cả một vùng. Dưới ánh trăng đêm 11 tháng 7 âm lịch, cùng với từng chùm pháo sáng của địch rọi đường, đoàn tên lửa vượt sông Gianh đầu tiên lầm lũi đi về phía rừng Ba Trại. Đoàn xe vừa qua ngầm Ba Trại thì máy bay địch ập tới. Tất cả thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến phân tán xuống các bờ ruộng trú ẩn. Các cỡ pháo phòng không trong vùng gầm lên, đan thành lưới lửa trùm lấy những con quạ sắt. Hai loạt bom sát thương nổ lộng óc, tiếp đến hàng loạt bom bi nhập nhoàng chớp sáng với tiếng nổ chát chúa đinh tai. Ngớt tiếng máy bay, anh chị em các đơn vị tìm nhau. Loạt bom bi đã sát thương hàng trăm người. Tất cả nhào lên mặt đường băng bó khiêng vác thương binh, liệt sỹ đưa về nhà kho hợp tác xã Trương Lưu (Hạ Trạch- Bố Trạch) để chuyển viện cấp cứu. Trong số hàng trăm liệt sĩ và thương binh đêm ấy, có người chị của Nguyễn Tiến Chung là Nguyễn Thị Minh Hoa. Trước nỗi đau thương mất mát, anh ôm lấy xác người chị thân yêu mà khóc. Chị hy sinh khi vừa tròn 19 tuổi. Tìm lại hành trang của chị, đọc bức thư tình chị viết cho người yêu đang chiến đấu ngoài mặt trận chưa kịp gửi, Nguyễn Tiến Chung đã viết:

 

“Em đọc thư trong dòng nước mắt

Phải chăng đây lời cuối yêu thương

Mười chín tuổi chị nhận lời hò hẹn

Vĩnh viễn chị đi... Nằm lại với con đường”

 

Trong những ngày bám trụ kiên cường, cái tên cảng Gianh đã trở thành máu thịt, một biểu tượng thân thương, bi tráng gắn chặt cuộc đời anh. Anh đã trở thành nhà thơ Cảnh Giang từ lúc đó. Cái bút danh Cảnh Giang (Cảng Gianh nói lái) đã theo anh suốt cuộc đời.

 

Năm 1968, tốt nghiệp lớp mười xong, anh làm đơn xin vào bộ đội để được cầm súng trả thù cho chị. Ban chỉ huy quân sự huyện thấy em trai anh mới lên đường nhập ngũ, chị gái mới hy sinh hai năm nên không cho đi. Trong những năm tháng chiến tranh, mảnh đất Quảng Bình trở thành tuyến lửa, là tỉnh bị địch đánh phá ác liệt nhất Miền Bắc. Các bến phà trở thành tọa độ lửa, trở thành cái túi bom của không lực Hoa Kì. Hơn ba vạn con em Quảng Bình đi sơ tán ra các tỉnh phía Bắc như Thanh Hóa, Ninh Bình để học. Số còn lại phải xé nhỏ phân tán ra thành nhiều ca kíp học dưới nhà hầm. Giáo viên nam trong độ tuổi hầu hết tòng quân ra mặt trận. Đội ngũ giáo viên của tỉnh Quảng Bình thiếu hết sức trầm trọng. Một số học sinh tốt nghiệp cấp hai được gửi đi đào tạo sư phạm hệ (7+3) ở các tỉnh bạn như Hưng Yên, Hà Bắc. Một số học xong cấp ba được đào tạo cấp tốc hai tháng ngay trong tỉnh rồi ra dạy cấp hai. Cảnh Giang có mặt trong số 114 giáo sinh toàn tỉnh lên núi rừrng Cao Mại (Tuyên Hóa – Quảng Bình) để học nghiệp vụ sư phạm. Ngày 20 tháng 11 năm 1968 anh xin về dạy Bắc Trạch bên đồi Ba Trại sát với phà Gianh. Lại những ngày trên bom dưới đạn, những ngày cùng đồng nghiệp tham gia san lấp hố bom. Chứng kiến sự hi sinh anh dũng của lực lượng thanh niên xung phong bảo vệ tuyến đường cho những đoàn xe ngày đêm ra trận, anh đã có những bài viết đăng trên báo Quảng Bình ngợi ca những chiến công của họ.

 

Tháng 2 năm 1986, Phòng Giáo dục Bố Trạch giao cho các trường đi lấy đót xuất khẩu. Khi đi qua “Hang tám cô” trên “Đường 20 quyết thắng” có tấm bia ghi tên các anh chị  thanh niên xung phong dựng trước cửa hang lòng anh quặn thắt. Chiến tranh đã lùi xa hơn 11 năm rồi mà các anh, các chị vẫn phải nằm lại trong hang chưa về được với gia đình. Họ nằm lại nơi rừng xanh núi đỏ, họ nằm giữa núi rừng lau lách cây bụi, mùa khô mới có dấu chân người. Anh xúc động nghẹn ngào, những dòng thơ “Tiểu đội giữ đường” cứ thế chảy tràn ra:\

 

 “Giữa Trường Sơn đồi núi điệp trùng

Không thấy mộ đâu

Chỉ có tấm bia chung ghi tên từng liệt sĩ

Những chàng trai Huê, Phương, Kì, Vũ

Lương, Toan, Tơ, Mai- những cô gái mở đường

 

 ...Họ không về giữa thành phố hôm nay

Bên con đường lịch sử

Xin một chút nghiêng mình trước mộ

Tám bông hoa của tiểu đội anh hùng”.

 

Về làm hiệu trưởng trường THCS Hạ Trạch, một trường có bề dày lịch sử. Nơi đây có tướng Lê Mô Khởi trong phong trào Cần Vương. Nơi đây cũng đã sản sinh ra những vị tướng, những nhà báo, nhà văn trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ. Anh đã xin đổi tên trường mang tên nhà thơ Lưu Trọng Lư – người con của quê hương. Anh luôn có ý thức giáo dục học sinh “Uống nước nhớ nguồn”, học tập truyền thống anh hùng bất khuất của thế hệ cha anh, đặc biệt những giáo viên, học sinh của mái trường này đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh giữ nước, những người đã ngã xuống bên bến phà Gianh.

 

Bốn mươi mốt năm trong nghề dạy học, năm 2009 anh về nghỉ hưu trên mảnh đất Thanh Trạch thân yêu. Anh được Đảng ủy Thanh Trạch mời viết lịch sử Đảng bộ. Anh tìm hiểu trận bom ngày 13 tháng 1 năm 1973 giặc Mĩ ném xuống làng anh. Chúng đã ném bom xuống xóm Làng và xóm Dừa, những khu dân cư đông đúc, giết hại 156 người. Trước khi tuyên bố ngừng bắn hai ngày, giặc Mĩ đã ném bom vào nơi tập trung lực lượng thanh niên xung phong và công nhân cảng Gianh bốc dỡ hàng. Chúng ném bom vào bếp ăn tập đoàn và bệnh xá dã chiến. Hầu hết không còn ai nguyên vẹn, chân tay trộn lẫn các núm ruột, tóc tai cháy sém, mặt mày bị biến dạng. Huyện Bố Trạch đã điều động dân quân xã bạn đến giúp mai táng liệt sĩ, tải thương binh đến bệnh viện. Không thể nhận dạng được một người nào vì xương thịt họ đã trộn lẫn vào nhau, máy bay địch vẫn gầm rú trên đầu nên các liệt sĩ đành chịu phận những ngôi mộ vô danh. Có khi xương thịt bốn năm người nhặt nhạnh lại được một gói nhỏ trong ni lông bó chiếu. Anh cố gắng tìm hiểu xem có ngôi mộ nào còn danh tính không nhưng tất cả đều vô vọng. Năm 2009 trong một đám cưới, Cảnh Giang ngồi gần anh Nguyễn Văn Chương người cùng xã. Anh Chương cho biết có một ngôi mộ có danh tính là cô Đặng Thị Chốc bí thư chi bộ, chính trị viên đại đội thanh niên xung phong Tỉnh Đoàn Hải Hưng. Cô Chốc trọ ở nhà ông Nguyễn Trừng bí thư chi bộ là bố anh Chương. Khi chôn cất liệt sĩ, chị Xuân vợ anh Chương đã nhận ra cô Đặng Thị Chốc, cô đã bị cụt một chân, một mảng tóc treo trên ngọn tre cháy rụi. Cả ba cha con chôn cô ở một ngôi mộ riêng. Nghe anh Chương kể lại, cô Chốc có tâm sự chỉ còn một người mẹ già ở nhà. Nghĩ rằng nhà cô chắc chẳng còn ai nên anh mua hai va li áo quần giày dép, mũ nón, kim ngân vàng bạc đồ hàng mã của phụ nữ rồi hóa vàng cho hai chị em nằm trong nghĩa trang. Cảnh Giang xin được làm người anh kết nghĩa với người nằm dưới mộ. Anh tự nhủ trong phần đời còn lại của mình, anh sẽ có trách nhiệm đối với cô Đặng Thị Chốc cũng như chị gái Nguyễn Thị Minh Hoa. Trước mộ Đặng Thị Chốc anh đã xúc động đọc bài thơ “Kết nghĩa với người dưới mộ

 

"Em bây giờ là em gái của anh

Dẫu muộn màng nhưng phần đời còn lại

 Một chút sẻ chia những gì mãi mãi

Chút ân tình đỡ lạnh chốn âm cung...

Không còn người thân em đã có anh

Có Tổ quốc và trời xanh trên nấm mộ

Anh thay mẹ lo em ngày giỗ

Có hương hoa và nỗi nhớ vô cùng"

 

 Trong cuộc đời làm thơ có lẽ đây là bài thơ mà thầy giáo Cảnh Giang sáng tác nhanh nhất. Anh vừa viết vừa khóc. Những câu thơ thấm đẫm tình người, đẫm đầy nước mắt, ướt nhòe cả trang bản thảo. Anh mang bài thơ vào tòa soạn báo Quảng Bình, không đầy một tuần sau đã thấy bài thơ được đăng. Một độc giả gọi điện đến cho anh gợi ý đi tìm tài liệu có ghi danh sách các thanh niên xung phong đã hy sinh trong thời kì chống Mĩ. Anh đi khắp nơi, tìm được cuốn sách “Huyền thoại thanh niên xung phong” có tên cô Đặng Thị Chốc  thôn Cổ Dũng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Hưng. Mừng quá anh khóc òa lên như trẻ nhỏ. Anh vội vàng gửi bài thơ và bài báo “Đặng Thị Chốc người con gái Hải Hưng và 145 liệt sĩ vô danh một huyền thoại ít ai biết đến” cho báo và đài phát thanh tỉnh Hải Dương (tỉnh Hải Hưng tách ra) cùng Đảng ủy, ủy ban nhân dân xã Cổ Dũng. Gia đình cô Chốc hẹn đến 29/10/2009 vào làm thủ tục bốc mộ. Ngày 29/10/2009, buổi sáng trời mưa tầm tã nhưng  khi đoàn đến nghĩa trang Nam Gianh thì trời hững nắng.  Ba mươi tám năm Đặng Thị Chốc trở về dưới lá quốc kì phủ lên hài cốt giữa tình đồng chí, đồng đội và tình nghĩa keo sơn nhân dân hai tỉnh Quảng Bình, Hải Dương. Trong lễ truy điệu em gái mình Đặng thị Chốc anh đã đọc bài “Đưa em về quê”:

 

 Thôi nhé! Mừng em được về cùng tiên tổ

 Về với quê hương ấm áp gia đình

Dẫu cách xa nhưng lời hẹn đinh ninh

Em vẫn ấm trong tình em mãi mãi

 

Cảnh Giang còn viết nhiều bài báo đề nghị xây dựng tượng đài tưởng niệm tri ân những thanh niên xung phong đã ngã xuống bên bến phà Gianh. Anh đề nghị Hội đồng thi đua khen thưởng Trung ương công nhận Đoàn 283 là đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang.

 

Cảnh Giang một nhà giáo, một nhà thơ sống hết mình vì sự nghiệp trồng người, suốt đời gắn bó với cảng Gianh, với những người đã ngã xuống bên bến phà lịch sử. Đồng nghiệp ở Quảng Bình luôn nhắc tên anh “Người thầy giáo kết nghiã với người dưới mộ”

                                                                           

 Trại sáng tác Nhật Lệ, hè 2010

Tác giả bài viết: Hoàng Minh Đức

Từ khóa: Cảnh Giang
Lê Hồng Vệ- - 06/01/2011 20:17
Chiến tranh đã khép lại 36 năm. Đất nước đang từng ngày đổi mới.Đổi mới từ suy nghĩ cho đến việc làm - Từ gia đình ra ngoài xã hội.Trong niềm vui chung ấy. Biết bao thế hệ đã hi sinh . Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu, để rồi gửi lại tuổi thanh xuân của mình nơi rừng sâu, suối thẳm. Không được trở về với Mẹ, với người yêu...Bài viết của Hoàng Minh Đức đã làm mắt tôi nhòe đi trên trang giấy Anh viết.Sự hi sinh thầm lặng của các cô gái miền Bắc trên quê hương chúng ta.Sự đau thương quặn thắt để cho chúng ta được sống với đất nước hòa bình.Cảnh Giang đã chuyển tải một tình yêu làm rớm lệ tình người. Cám ơn Anh, tôi sẽ nhớ mãi, nhớ về Anh như nhớ những gì tôi đã từng yêu quý nhất.
Kinh Bắc- - 06/01/2011 21:16
TẶNG ANH CẢNH GIANG

Tôi đọc thơ Anh vào buổi chiều nghiêng ngả/
Của gió vi vu như Cô ấy hiện về/
Nắm tay Anh đi giữa đôi bờ đê/
Người và bóng cứ đuổi nhau chạy mãi//

Đau nhói lòng Anh con tim tê tái/
Kết nghĩa cùng em nhưng nào thấy em đâu/
Suốt cuộc đời Anh hình bóng em trong đầu/
Anh mang theo nỗi u sầu lớn mãi//

Buổi đầu chiến tranh em còn thơ dại/
Như bao người nhiều hoài bão ước mơ/
Em lớn lên em không thể đợi chờ/
Phơi phới tuổi xuân lên đường chống Mỹ//

Con đường huyết mạch em chuyển nhiều vũ khí/
Rớm máu vai em người thiếu nữ thân thương/
Tình cảm cho miền Nam người con gái can trường/
Dốc hết lòng em vì miền Nam thống nhất//

Vậy mà em bỏ Mẹ về với đất/
Nơi có hàng thông reo ru ngủ ngàn đời/
Đất Mẹ quê Anh ôm chặt em ơi/
Đứa con gái của làng Anh yêu quý//
…..
cảnhgiang- - 06/01/2011 21:45
Cám ơn bạn bè cám ơn đồng nghiệp Động viên nhau để xích lại thêm gần Cho hồn thơ ta thêm nhạc thêm vần Trong xa cách vẫn nặng tình tri kỷ...
Danh Loi- - 06/01/2011 23:23
Anh Cảnh Giang sao mà yêu anh thế, Mặn nồng dâng tâm hồn anh Hồng Vệ, Tứ thơ hay tê tái Kinh Bắc lòng, Đặng Thị Chốc ơi ấm mãi hai quê.
leman- - 20/02/2012 19:06
Thầy chủ nhiệm em , dạy bộ môn Tự nhiên sao làm thơ hay đến vậy .Em nghĩ rằng thầy khô khan lắm .Đọc thơ thầy nước mắt em tràn mi.
1, 2  Trang sau
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image