02:47 ICT Thứ bảy, 20/10/2018
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non

Người Cao Lao Hạ»Nghệ thuật

Lê Chiêu Cường

Thứ năm - 21/10/2010 16:41
Lê Chiêu Cường làm thơ từ những ngày còn là học sinh và tiếp tục trong quân ngũ. Thơ anh chân thực, mộc mạc nhưng đầy tình thân. Đã in: Tiếng lòng – Thơ, năm 2010.

 

 

Sinh ngày 19 tháng 2 năm 1943.

Quê quán: Làng Cao Lao Hạ, nay là xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Nhập ngũ vào Quân đội nhân dân Việt Nam: Ngày 2 tháng 9 năm 1967. Đã chiến đấu trên khắp chiến trường A, B, C.

Ngày vào Đảng CSVN: Ngày 6 tháng 5 năm 1969

Hiện là Cựu chiến binh Việt Nam, thương binh hạng 4/4; nạn nhân nhiễm chất độc Ddiôxin của Mỹ

Hiện đang sinh sống tại thôn 8, xã Pơng Đrang, huyện Krong Buk, Đak Lak.

Huân chương chiến công hạng 3

Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 3

Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng 3

Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng 3

Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam

Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng

Hội viên Hội Hữu Nghị Việt Lào tỉnh Đắk Lắc

 

Quá trình hoạt động văn hóa xã hội

 

Từ năm 1965 – 1966: Trưởng ban TTVH xã Hạ Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình

Năm 1966 – 1967: Giảng viên trường BTVH 3 đảm đang Bắc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; Cộng tác viên báo Quảng Bình.

1968 – 1973: Vừa làm nhiệm vụ quân nhân vừa làm thơ động viên bộ đội chiến đấu; cộng tác viên cung cấp thông tin cho Thông tấn xã Việt Nam và Báo Quân đội nhân dân Việt Nam. Bí thư Đoàn thanh niên trong quân đội cho đến lúc ra quân.

1975 – 1978: Cộng tác viên báo Quảng Bình; Bí thư Đoàn cơ sở xí nghiệp cầu đường Lâm nghiệp thuộc Bộ Lâm nghiệp

2/1991 nghỉ hưu tại thôn 8, xã Pơng Đrang, huyện Krong Buk, Đak Lak

2/1992 – 1995: Phó chủ tịch MTTQVN xã Pơng Đrang; Đảng ủy viên đặc trách công tác Đoàn TNCSHCM

1992 – 2008: cộng tác viên báo Đắk Lăk

4/2010 đến nay: Hội viên Câu lạc Bộ thơ thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lăk.

 

Lê Chiêu Cường làm thơ từ những ngày còn là học sinh và tiếp tục trong quân ngũ. Thơ anh chân thực, mộc mạc nhưng đầy tình thân.

Đã in: Tiếng lòng – Thơ, năm 2010.

 

Xin giới thiệu chùm thơ của Anh, đăng trên tạp chí Nhà Văn số 42 của Hội nhà văn Việt Nam.

 

NamĐỉnh ngàn bảy trăm

 

NamĐỉnh ngàn bảy trăm[1]

Trắng xóa dòng thác bạc

Đây Nhạc Viện hàn lâm?

Không! Gió ngàn và suối hát.

 

Đây hội chợ Đà Lạt

Mà náo nức, rộn ràng?

Không là trạm chuyển tiếp

Giống như cảng Hải Phòng.

 

Đây Lêningờrát

Chuẩn bị cuộc duyệt binh

Không! Bộ đội ra trận

Súng, cối, pháo tự hành?

 

 

Ôi! Trường sơn! Trường Sơn!

Những tháng ngày đánh Mỹ

Thành phố xá tưng bừng

Thành Pháo đài chiến lũy.

 

Thành phố của chiến sỹ

Dưới chân ngàn bảy trăm

Không phải bằng lầu các

Mà tăng, bạt, nilon

Vũ khí chất đầy non

Quân lương kho ăm ắp

Quân thù mắt mù tịt[2]

NamĐỉnh ngàn bảy trăm!.

 

                              17/6/1971

 

 

Nơi em ngã xuống

 

 

Một chiều mùa Đông

Tôi đến trận địa pháo đất đối không

Nơi Em ngã xuống.

Đìu hiu ngọn gió lay cành dương,

Lay động cả không gian

Xô nghiêng khung trời giá lạnh.

Tiếng chim từ quy gọi bạn

Nghe não nùng dìu dặt giữa mênh mang.

 

 

 

Tôi đến trận địa pháo đất đối không

                        Nơi Em ngã xuống

Giờ đây đã thành mộng lúa vàng

 

Cỏ xanh non trên từng bờ ruộng,

Luống cải hoa vàng ướt dầm sương.

 

 

Tôi đến bên hàng dương

trận địa năm xưa

Trận địa pháo đất đối không

                        Nơi Em ngã xuống

 

Tổ quốc ghi công Em ở chốn này

Hoa cải vàng ong hút nhụy say.

Ong ơi có biết trong lòng đất

Luống cải hoa thơm cho ong làm mật

Có máu đào và xương thịt Em tôi?

 

 

Tôi đến trận địa pháo đất đối không

                        Nơi Em ngã xuống

Chiến tranh đã lùi xa rồi

Sao Em đi mãi không trở lại

Để nhìn mùa Xuân đang sinh sôi?

 

 

Nén tầm hương tôi cắm xuống đất này

                                    Cẩn niệm Em

Khôn thiêng xin Hồn Ngọc giáng lâm

Cho tôi vơi bớt niềm thương nhớ

Để con tim tôi nhạt vết bầm.

 

 

Một sáng tôi lại đến trận địa pháo đất đối không

                                    Nơi Em ngã xuống

Giữa thanh tiết mùa xuân nắng tràn,

Phấp phới tung bay trên cổng làng

Thắm tươi màu cờ Tổ Quốc

Màu cờ đỏ sao vàng chói rực

 

Màu vàng son thiêng liêng bất diệt

Tôi nhận ra:

Có máu đào và phảng phất Linh Hồn Em.

 

                      Đầu mùa xuân 2010

 

 

Nhớ bạn

 

(Tặng Lê Quang Châu)

 

Chiều nay tôi về làng Tân Thủy

Hậu cứ năm xưa của Tiểu Đoàn

Hỏi tìm nhà người con gái ấy

Để biết bạn tôi có bình an!

 

"Anh ấy không biết có bình an?!

Từ ngày anh rời làng Tân Thủy

Hoa vu quy em cứ héo tàn!

Tình người ta như bông hoa tuyết

E đông qua rồi sợ nắng tan!..."

 

Lời em nói, mi em rớm lệ

Rồi một thoáng mắt em sáng lên

Niềm hy vọng quyện nỗi buồn nhung nhớ

Chiến tranh lỡ hẹn bao cuộc tình!

 

Ngoài vườn vết bom còn nham nhở

Gốc đào trước ngõ đã hồi sinh

Đợi tiết Đông tàn, Xuân hoa nở

Đón bạn về, bạn có biết không?

 

              Tân Thủy 20/12/1997



[1]Đỉnh núi 1700m ở tây nam Quảng Trị

[2]Quân ta tập kết một lực lượng lớn như vậy mà thám báo địch không hề biết 

Tác giả bài viết: Lưu Đức Hải

Từ khóa: Lê Chiêu Cường
Bạn cần đăng nhập thành viên để sử dụng chức năng này

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image