00:12 ICT Thứ hai, 26/02/2018
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non

Trí tuệ và cảm xúc Cao Lao»Viết về Cao Lao

Ký ức bần, sác Linh Giang

Thứ ba - 14/12/2010 21:00
Bút ký "Ký ức bần, sác Linh Giang" là cảm xúc mạnh mẽ của tác giả Lê Chiêu Phùng về cây bần, cây sác và con sông quê hương. Bút ký được giải nhì (không có giải nhất) của Đài phát thanh truyền hình tỉnh QB năm 2010.

 

Sông Gianh, tên cũ là Đại Linh Giang là con sông lớn nhất Quảng Bình. Hai bên bờ sông là những rừng bần, rừng sác soi bóng mát xuống dòng sông là tấm lá chắn chở che bao làng mạc quê hương. Buổi n­ước ròng và buổi n­ước lên, con sông quê lại in những ngấn nư­ớc, nh­ư kỷ niệm về những tháng năm tuổi thơ không bao giờ quên.

Bút ký: Ký ức bần, sác Linh Giang là cảm xúc mạnh mẽ của tác giả Lê Chiêu Phùng về cây bần, cây sác và con sông thân th­ương ấy.

                     

Sông Linh Giang ngoằn nghoèo từ dãy Trường Sơn xuôi về biển. Thưở xưa, trong ánh mắt trẻ thơ tôi sao sông lại dài và rộng thế. Vào mùa lũ, Linh Giang như một con rồng nước đục ngầu cuồn cuộn phù sa xuyên qua rừng sác, rừng bần. Người miền quê tả, hữu Linh Giang coi cây bần, cây sác là “thần hộ mệnh” bảo vệ làng quê.

 

Hồi nhỏ, để ra được bờ sông bọn trẻ chúng tôi phải lội qua rừng cây “hộ mệnh” tướt cả mồ hôi, lắm lúc bị lạc. Giữa rừng bần, sác có con đê đất ngăn lũ. Nói là đê nhưng nó chỉ lớn hơn con chạch một tí, thế mà, nghe các vị cao niên kể lại rằng, con chạch đó đã tồn tại hàng trăm năm nhờ vào sự vững bền của rặng cây bần, sác.

 

Sác, bần cùng chung một họ. Lá bần to dày xanh ngắt, lá sác nhỏ hơn có điểm chút màu vàng. Cây bần, cây sác dễ trồng, dễ sống, trái dài và nhọn. Khi rơi trái bần, sác cắm xuống đất, sau vài tuần nẫy mầm và phát triển nhanh như bao “anh chị” khác. Trái có màu xanh, vỏ mọng, khi chưa chín còn có vị chát, khi ngả màu vàng chuyển vị chua ngòn ngọt, dễ ăn. Mùa hạ, trái ra nhiều đáo để, quả rơi cắm đất thành cây, còn lại trôi dạt vào bờ gặp nắng quăn như vỏ đỗ. Vào mùa hanh khô, bọn trẻ gom đốt, vây quanh đống lửa chơi trò “bịt mắt bắt dê”. Trái bần, sác mà nấu với cá tràu thì ngon hết ý. Nhờ hương vị độc đáo khác thường mà trái sác, trái bần sớm trở thành “đặc sản” quê tôi. Mỗi lần chị tôi chế biến món bần chua thì không chỉ bọn con gái mà cả bọn con trai chúng tôi cũng tướt hết nước bọt thèm thuồng. Hiện nay, có cả hàng chục, hàng trăm món lẩu chua đặc sản nổi tiếng ở nhiều địa phương, nhưng hương vị bần chua cá tràu Linh Giang ngày ấy thì không thể lẫn đi đâu được.

 

Loài cây bần, cây sác sống lâu, lại hợp với đất bùn, phèn, mặn. Thân cây không to nhưng rễ chùm như cái nơm đại cắm đều vững chãi vào lòng đất. Không cần chăm sóc, chỉ bỏ công bảo vệ, cây cũng có thể cao quá nóc nhà. Dưới gốc là những ổ cua, ổ tôm. Mỗi khi triều xuống, chỉ cần vén lớp mùng rều là thấy lúc nhúc tôm, cua. Trên cây, ong làm tổ, chẳng hiểu vì sao mà ong lại thích làm tổ trên sác, trên bần. Ngày ấy, bọn con trai tinh nghịch hay leo trèo phá tổ ong, nhiều lần bị ong “bao vây” liền hụp lặn xuống nước, thế nhưng khi ngóc đầu lên lại bị tấn công sưng vù cả mắt. Người bản địa yêu thương cây bần, cây sác loài cây hoang dại mọc tự nhiên như bao loài cây khác nhưng nó lại được “nuông chiều” ở cồn bãi, bờ đê, ven sông, ven biển phòng hộ ruộng vườn. Thương biết bao loài cây dân dã, thân hình xù xì, xấu xí nhưng vững chãi vươn lên cùng năm tháng thời gian che chở cho làng quê…

 

Nhớ lại những ngày giặc Mỹ leo thang bắn phá Miền bắc. Lần đầu tiên, chúng tôi mới thấy máy bay Mỹ gầm rú trên bầu trời. Giữa dòng Linh Giang, hai tàu Hải quân cờ đỏ sao vàng từ sông Son hướng thẳng ra biển. Được sự yểm trợ của Trung đoàn pháo binh 214 (Quân khu 4), hàng chục khẩu pháo cao xạ 37 ly ở dốc oằn Ba Trại và pháo 57 ly ở xã Quảng Phúc, Quảng Thuận cùng với hỏa lực trên tàu Hải quân đồng loạt nổ súng bắn trả quyết liệt với máy bay Mỹ. Bầu trời trong xanh bỗng chốc phủ đầy khói đen và những tiếng gầm rú của máy bay phản lực, những loạt cao xạ đánh trả của lực lượng phòng không... Lớp nhỏ chúng tôi chưa hình dung ra sự hiểm nguy của súng đạn chiến tranh, thi nhau chạy xuyên rừng sác ùa ra bờ đê vỗ tay, reo hò. Cách chúng tôi không xa, một tiếng nổ rền đinh tai với cột khói cao hàng chục mét kéo theo đất, đá, rơi xuống rào rào... Quả bom tấn từ máy bay phản lực F4H của Mỹ bổ nhào ném bom phà Gianh nhưng chệch hướng, nổ gần chân đê. Bọn trẻ hoảng loạn chạy vào rừng sác ẩn nấp. Chưa kịp hoàn hồn, đã được các chú dân quân rừng sác với những khẩu súng trường trên tay, kéo gập chúng tôi xuống đất, đẩy vào dưới gốc bần trước khi loạt bom nổ tiếp... Máy bay Mỹ bay xa, tôi nghe mấy chú bộ đội, dân quân kháo nhau: “Đã thấy chưa, máy bay Mỹ bổ nhào ném bom phà Gianh, bị lực lượng phòng không bắn trả quyết liệt, chúng hốt hoảng cắt bom khi chưa kịp ngắm mục tiêu”. Và từ đó ven bờ Linh Giang, rừng sác, rừng bần trở thành trận địa. Cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ kéo dài, rừng sác, rừng bần quê tôi nham nhở hố bom, nhiều cây cao tới nóc nhà bị bom đạn lật tung gốc rễ... Ngày đình chiến, nhiều bà con thôn Trường Lưu, thôn Thống Nhất (Hạ Trạch), Bình Hải, Mỹ Trung (Mỹ Trạch), Ba Đề (Bắc Trạch), chẳng ai bảo ai tìm giống cây bần, cây sác dặm lại. Đứng trên miệng hố bom, còn vương mùi thuốc bom khét lẹt, ông Lê Quang Thọ ôm giống bần trên tay, giơ cao cây rựa sắc lên trời, chửi thề: “Tổ cha thằng Mỹ, mi đã phá rừng sác, rừng bần làng tao. Tao mà kéo cổ mi xuống được tao chém... tao chém”.

 

Ký ức cây bần, cây sác theo tôi khắp mọi nẻo đường công tác. Ngày trở lại, bên dòng Linh Giang, rừng bần, rừng sác không còn nữa, chỉ còn lác đác vài nơi… Bên kia sông, rừng bần thôn Mới xã Quảng Phúc tuy không thành rừng như nghĩa đen của nó nhưng cũng đủ che chắn cho làng quê vượt qua bao con lũ dữ. Thế mà nghe nói cách đây chưa quá lâu, rừng bần hiếm hoi đó bị con người đốn hạ, tạo thành bãi tập kết cho tàu thuyền vào ra. Rồi ở Quảng Văn, Quảng Tân... cũng vậy, hàng ngàn cây bần, hàng trăm cây sác đã bị đốn ngã tận gốc để đào hồ nuôi tôm. Ông Nguyễn Chí Thương xã Quảng Tân, một lão nông tuổi ngoài 80 ấm ức nói không nên lời: “Buồn lắm,... trước đây chỉ cần đi một vòng trong sác là có đủ bữa ăn mặn cho cả nhà rồi, chừ còn mô nữa. Nhờ bần, nhờ sác mà cái vườn nhà tui tồn tại được đời ni sang đời khác. Bây chừ bần, sác không còn, lũ vừa rồi, sông đã ăn sâu gần hết đất vườn. Cứ như ri, liệu năm tới còn nhà mà ở nữa không”... Những rừng xanh bạt ngàn của bần, của sác không còn, chỉ còn hiện hữu những tuyến đê sừng sững cao đến quá đầu người được ôm trọn bởi lớp đá hộc khô khốc. Quanh chân đê, người ta chia nhau từng mảnh nhỏ đào hồ nuôi tôm, chắn cá. Nghe nói, những hồ nuôi tôm, chắn cá này cũng chỉ được vài vụ đầu về sau bốc mùi phèn chua khét lẹt, nhiều nơi đã biến thành “hồ hoang, vắng chủ”. Và cứ thế, con đê kè đá lại cứ oằn mình, cô đơn chống đỡ mỗi khi cơn lũ tràn về.

 

Cách đây ít hôm, tôi có dịp gặp lại Nguyễn Văn Doan người bạn học cấp 3 thời chiến tranh phá hoại tại Cao Lao Hạ. Doan đã cùng tôi nhiều lần “chui” vào rừng sác bắt ốc, mò cua và sau này lại là một trong những người góp công trong việc đề nghị bảo tồn và phát triển rừng sác. Với cương vị Phó Chủ tịch huyện phụ trách nông nghiệp với bao điều lo toan, thế mà Doan vẫn đau đáu một điều: Chừng nào chưa khôi phục lại rừng sác Linh Giang thì ăn chưa ngon, ngủ chưa yên với bà con... Đứng giữa cánh đồng phẳng phiu, màu mỡ ngày nào chốc lát đã bị lũ cào, băm vụn, Doan bùi ngùi, trầm tư: Giá như ngày ấy... sau chiến tranh phá hoại, rừng sác, rừng bần dọc các tuyến đê này được bảo vệ và những năm vừa rồi mình cố hơn một tý, xúc tiến phát triển cây bần... chắc trận lụt lịch sử đầu tháng 10 vừa rồi không thiệt hại lớn đến như vậy. Rồi anh kể cho tôi nghe: Cách đây 10 năm, mình được đi tham quan công trình lấn biển ở huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định. Đúng là một công trình vĩ đại, nh­ưng xét cho cùng lấn thì dễ, bảo vệ mới là khó. Thế mà “người” đứng ra bảo vệ dẻo dai bền bỉ và hiêu quả không ai khác ngoài loài cây bần, đ­ước. Và cách đây không lâu, một dự án lớn trồng cây ngập mặn giành cho các tỉnh ven biển Nam bộ nhằm chống biển xâm thực, bảo vệ môi sinh, môi tr­ường đã đư­ợc khởi động cũng phải nhờ đến “đội ngũ kiên trung” là cây đ­ước, cây bần, cây sác.

 

Sau ngày tái lập tỉnh, cuối thập niên 90 thế kỷ tr­ước, cũng đã có dự án lớn đầu tư­ đến cả trăm tỷ đồng nâng cấp, gia cố đê, thế mà mỗi khi lũ về con đê lại “rùng mình” chìm trong lũ lụt. Thạc sỹ thủy lợi Nguyễn Văn Tuynh, hiện đang công tác tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Bình, anh đã có nhiều năm nghiên cứu tìm giải pháp bảo vệ đê. Theo anh, cùng với việc đầu tư­ kiên cố đê thì phải phát triển và bảo tồn cây bần, cây sác như­ ông Doan Phó Chủ tịch huyện Bố Trạch đề xuất là tối ­ưu hơn cả. Sau đó anh đã mạnh dạn lập đề án và đ­ược dự án chấp thuận đầu t­ư thí điểm phát triển sác, bần. Sau 3 năm lăn lộn, bên kia Linh Giang vùng sác Quảng Phúc, Quảng Thanh (huyện Quảng Trạch) ra đời. Rồi bên này sông, v­ườn bần Hạ Trạch, cây sác Bắc Trạch (huyện Bố Trạch) cũng chớm hình thành, đâm chồi nẩy lộc…. B­ước đi trên tuyến đê vừa bị sạt lở nham nhở sau trận lũ, Nguyễn Văn Doan nói với Chủ tịch xã Hạ Trạch Lư­u Văn Tác nh­ư nói với chính mình: “Tuy dự án kết thúc sớm, nh­ưng tin rằng ng­ười dân Cao Lao Hạ quê ông cùng với bà con xã Bắc Trạch, Thanh Trạch và xã Mỹ Trạch sẽ sớm vực lại rừng sác, rừng bần Linh Giang. 

 

... Từ những mầm xanh ban đầu của dự án, từ những giống cây bần, cây sác đư­ợc bà con “chăm bẵm” nâng niu, tin rằng, người dân quê tôi, ng­ười dân biền bãi Linh Giang sẽ tiếp tục bảo tồn, phát triển đư­ợc, bởi loài cây bần, sác đã từng gắn bó “máu thịt” ngàn đời với họ.

 

Hy vọng, một ngày không xa, cây sác, cây bần cùng với con đê kè đá sẽ là những “chiến sỹ” kiên trung, đầu sóng, ngọn gió bảo vệ làng quê. Và rừng sác, rừng bần sẽ là tổ ấm của tôm, cua và những đàn cò, le le, vịt trời... lại sà về trú ngụ nghỉ ngơi sau một ngày rong ruổi.

Tác giả bài viết: Lê Chiêu Phùng

Từ khóa: Lê Chiêu Phùng
Lê Hồng Vệ- - 15/12/2010 09:58
Ký ức sác bần Linh Giang của Tác giả Lê Chiêu Phùng gợi nhớ xôn xao trong sâu thẳm tiềm thức của cư dân vùng hạ lưu Linh Giang huyền thoại. Đâu đó được nghe hơi thở của ngó bần trổi dậy khi con nước vỗ về lên xuống. Những con cá bống nhảy ti tách dưới rặng bần khi mặt trời ngấp nghé ló lên. Cái cảm giác như đưa ta trở về ký ức của buổi đầu hoang sơ dễ mến.Vẻ đẹp tâm hồn của bần luôn sát cánh bên những người dân chịu thương chịu khó một nắng hai sương.Những quả bần no tròn đung đưa theo gió như những bộ ngực đẹp nhất của người con gái mới lớn quê tôi.Còn nhớ trong sử ca về bần. Còn có một mối gắn bó với bao người phụ nữ Miền trung khi mỗi lần chuyển dạ:"
Chịu khó ra công móc ngó bần.
Đâm ra vắt nước lập phương thần.
Cứu bao phụ nữ cơn băng huyết
Vị thuốc tuy sơ hiệu bội phần".
Cám ơn Lê Chiêu Phùng kính mến. Anh đã gợi mở bao điều của màu xanh cây bần huyền thoại với con người mãi mãi có mối liên hệ thầm lặng.
Tuyết Lan- - 15/12/2010 10:12
Anh Le Hong Ve o xom mo rua he. loi binh luan vua lang man, vua sac ben nhu dao cao. Cam on Anh nhiu
Lương Duy Hiếu- - 15/12/2010 13:33
Mr.Lê Hồng Vệ viết lời bình bài này hay quá, đọc nổi cả da gà D:). Anh Lưu Đức Hải nên tặng bằng khen cho anh Vệ vì dạo này có nhiều lời bình hay, làm lay động lòng người, chỉ có ai yêu Cao Lao Hạ thực sự mới viết được như thế D:). Cảm ơn anh Lê Chiêu Phùng, tác giả của bài viết đặc sắc làm gợi nhớ lại tuổi thơ của rất nhiều người khi đọc bài viết của anh.
haild1960- - 15/12/2010 18:23
Anh Phùng ơi, bài bút ký của anh hay quá, sâu sắc quá. Những ý kiến của anh Nguyễn Danh Lợi và của Anh đã gợi cho chúng ta rất nhiều suy nghĩ trong việc cùng nhau xây dựng một "Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội xã Hạ Trạch" trong tương lai. Xin chân thành cám ơn Anh rất nhiều
Mong Anh liên hệ với Thạc sỹ thủy lợi Nguyễn Văn Tuynh để xin bản đề án phát triển và bảo tồn cây bần, cây sác Anh nhé.
Hoàng Giang- - 15/12/2010 18:31
Em đọc kỷ bài viết của Anh Phùng, những bình luận của các Anh không chán, nhưng Anh Vệ cho em hỏi ngó bần có phải là: " cặc bần" không??. ở quê tui cái ni chặt về phơi khô để mần nút chai đó.
1, 2  Trang sau
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image