12:19 ICT Chủ nhật, 22/07/2018
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non

Trí tuệ và cảm xúc Cao Lao»Viết về Cao Lao

Làng tôi

Thứ sáu - 17/06/2016 18:44
Trường ca về quê hương của bác Lưu Văn Vạn, hiện đang nghỉ hưu ở Hà Nội

 

Lời Ban biên tập: Bác Lưu Văn Vạn, tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương là một trong những người con Cao Lao Hạ ra Hà Nội từ rất sớm, sau năm 1954; Bác là một trong những thành viên của Hội đồng hương Hạ trạch tại Hà Nội từ những ngày đầu thành lập. Hiện Bác đang nghỉ hưu ở Hà Nội, tuy tuổi đã cao nhưng Bác vẫn dành nhiều thời gian cho các hoạt động của Hội, mà gần đây nhất là hoạt động cung tiến Hoành phi câu đối cho Đình làng.

 

Những bài thơ mà bác Lưu Văn Vạn viết về quê hương được coi như là những trang lịch sử của làng bằng thơ. Ngày 1/12/2014, caolaoha.com đã đăng tải trường ca “Quê hương” của bác (xem tại đây), nay caolaoha.com xin được gửi tới toàn thể bà con trường ca “Làng tôi” do Bác mới sáng tác gần đây cùng với những dòng tâm sự của Bác gửi Ban biên tập

 

 

Thư Bác Lưu Văn Vạn gửi Ban biên tập

 

Thân mến: Gửi cháu Hải.

 

Từ ý của hai câu thơ trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” của nhà thơ mang họ Chiêm Thành Chế Lan Viên

 

“Khi ta ở, chi là nơi đất ở 
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!” 

 

Chú cứ ngẫm nghĩ, suy tưởng đến làng mình, một làng quê đã trải qua hàng ngàn năm, và những chứng cứ oai hùng của làng vẫn còn đâu đó trong sử sách; trong các ngôn từ, tiếng nói; trong tư duy, luận chứng, suy luận logic của người làng; và trong các địa danh, dấu tích còn lại ở làng...thế nhưng lớp con cháu chúng ta vẫn chưa có dịp vạch sâu lớp bụi thời gian, để tìm về cội nguồn, thực gốc xuất xứ mảnh đất huyền thoại mình đang ở.

 

Chú mạo muội chép lại những gì chú thấy, chú nghĩ về làng mình gửi tới cháu và Ban biên tập caolaoha.com. Chính caolaoha.com đã đánh thức nhiều con tim tỉnh lại với hiện thực, khi đang chìm trong giấc ngủ vĩnh hằng!

 

Chú Lưu Văn Vạn 

 

 

LÀNG TÔI...

 

Đã từng góc biển- chân trời

Đã từng đi- đến, khắp nhiều nơi.

Chẳng ở đâu, sánh được với quê tôi!

Miền đất Cổ: Làng Cao lao hạ!

 

           Bình minh rạng.

           Muôn hào quang sáng toả,

           Cả vòm trời lồng lộng tự không trung.

           Như chiếc Nạo bạt vàng khổng lồ

           Chiếu rọi khắp cả vùng.

            Luồng gió mát.

            từ biển Đông, ngàn trùng thổi tới!

 

Thế phong thuỷ địa tầng, làng tôi ở:

        Kề Đại dương.

              Cạnh Đại Giang

                       Có Đồng bằng

                             Bình nguyên

                                   Trung du

                                           Rừng Đại ngàn

                        Trong vực sâu- Ngoài Rào- Hói!

                     Ba nguồn nước: Ngọt- Mặn- Lợ.

                     tràn ngập cả Địa dư!

 

        Giữa nội làng trù phú dân An Cư.

        Đồng ruộng đầy ắp cá tôm,

        Lúa tốt tươi, hai vụ chiêm mùa.

        Nương rẫy quanh năm. Sắn khoai trĩu củ.

Dáng Lệ Đệ điệp trùng

                   như một đàn hổ dữ

              Quanh đầu về chầu phục, Địa linh làng!

  Từ đỉnh Lều- Cù.

Nhìn ra biển lớn mênh mang.

Những hạm tàu,

đang hiên ngang trùng khơi rẽ sóng.

Thấp thoáng trời xa, giữa không gian lồng lộng

Đẹp như một bức tranh thuỷ mặc Cổ lồng khung.

  Cửa Linh Giang:

  Khi triều dâng nước ngập, ngớt sóng lừng.

  Thuyền Ghe lại ngược xuôi ra khơi vào lộng.

         Mặt nước Vực Sanh đẹp như trong mộng

         Đêm trăng thanh vẫn soi bóng các nàng tiên

         Truyền thuyết xưa kể lại khắp vùng miền.

         Cứ đêm Rằm hội đến đây tắm mát.

         Mãi đùa vui cùng nhau múa hát

         Rạng ngày lên, không kịp trở về trời!

         Đành hoá thân vào, các thiếu nữ làng tôi.

         Nên gái Cao Lao.

                    thời nào cũng đẹp ơi... là đẹp!

Mùa hạ về- ngọn gió Lào cháy khét!

Đứng dưới Oằn, mát hơn cả Tam Đảo- Sa Pa!*1

Thoảng vi vu thơm ngát hương thông già!

Phong thuỷ ấy! Hiếm nơi nao có được?!

                                           ***

           Trên vùng đất làng tôi đang ở.

           Từng là nơi:

           Một thuở: Nước non HỜI!  *2

           Nghìn năm rồi!

           Vẫn còn đây:

           Thành quách xưa.  *3

           Giòng hói Củ. *4

           Quân Chiêm khơi! *5

           Dấu tích Hai mươi Cơ doanh. *6

           Song hành cùng Luỹ sâu Hào rộng *7

           Cả mặt bằng mênh mông

           Tập đoàn quân Chiêm, đồn trú đóng

           Như một bàn cờ lớn

           Thẳng tắp Ô vuông! *8

             Bốn hướng. Nam- Bắc- Tây- Đông

             Hình thành một bãi chiến trường

             Tạo nên thế ỷ- ziốc liên hoàn! *9

             Phòng vệ đối phương giáp trận.

Mặt tiền lấy Giòng Gianh thủ trấn!

Suốt dọc bờ đắp phòng tuyến chắn ngang. *10

Đầu bản doanh, trục đường Cái Quan. *11

để các tướng lĩnh Đồ bàn.

Đi tuần thú, đôn đốc quân binh trực chiến.

         Toàn trận địa là một thành trì Cứ điểm

         Chuẩn mực- Uy nghi

         Thẳng tắp đường lớn- luỹ- hào...

         Sau hậu cứ:

         Nơi đóng: Tổng Hành dinh tối cao! *12

            Đàu não chỉ huy ba quân

            Hoạch định kế sách, Thủ- Chiến.

            Đã xa lắm, cái ngày xưa... ấy!

            Những dư âm vẫn như đang hiện hiện...

                        Cứ mỗi sáng, khi dứt hồi trống lệnh.

                        Cả tập đoàn quân.

                        Đội ngũ giáo gươm tề chỉnh.

                        Đứng uy nghi

                        Mặt hướng về Nam

                        Làm lễ chào cờ của Vương quốc Đồ bàn

                       Trên non cao tung bay trong gió lộng! *13

                        Lá cờ thiêng mang theo hình bóng.

                        Thuở bi hùng oanh liệt

                       Của Đế chế Chăm-Pa!!

                       Nhà nước Chiêm.

Muốn giữ vững Sơn hà.

Cùng tồn tại- Cạnh Quốc gia Đại Việt

Nên Vua Chiêm Chiếu quyết!

Dựng Tiền đồn vĩ đại.

Phía Hữu ngạn Nam Gianh

Huy động hết:

Các binh chủng hợp thành,

Lập Chiến luỹ

Trên vùng đất biên thuỳ Cao lao hạ.

                                          ***

Ngàn năm trước  *14

Chốn biên cương

Luôn bị quân Chiêm quấy phá.

Vua Lý Thái Tông

Cùng Đại hùng binh

Vượt Hoành sơn- qua Linh Giang.

Thế như triều dâng, sóng cả!

Bao kẻ thù gục ngã

Những thành trì tan rã!

dưới bước đoàn quân đi,

giữa trận tiền

Âm vang tiếng trống thúc, ngựa phi

Cờ xí rợp trời,

Quân hùng, Tướng mạnh

Xông thẳng vào biên trấn!

Uy dũng vượt sang sông,

gặp quân Chiêm chống cự.

Trận giáp chiếm giữa giòng!

Hai đạo quân quyết đấu!

Sông Gianh nổi cuồng phong.

Lúc bấy giờ:

  Trong gió mây vần vũ

  Lửa rực cháy ngút trời,

  Gươm giáo toả sáng ngời

  Tiếng voi gầm, ngựa hí!

  Cả hai bên Tướng sĩ

  Nhuệ khí ngùn ngụt cao!

                Đại quân Việt lập lại trận:

               Bạch Đằng Giang.

       Tiền Ngô Vương ziệt quân Nam Hán!

            Oanh liệt hơn cả trận

           Trên Hai mặt thuỷ- bộ.

     Tiền Lê- Vương, bình Tống thuở nào?!

             Băng qua thành- hào.

             Tiến vào cứ điểm Cao lao.

     Ba quân đằng đằng sát khí

     Cuộc huyết chiến bi hùng thế kỉ.

     Toàn Tướng sĩ, muôn người cùng ý chí!

     Dũng mãnh oai phong.

     Lập chiến tích thần kì!

                                         ***

                          Bình minh lên!

                          Đâu rồi?! Trận địa cũ uy nghi!

                          Trên chiến trường

                          Chỉ còn lại: Đống tro tàn, khói bụi!

                          Hai mươi cơ doanh

                          Chất chồng tự thi cháy rụi!!

                          Xác ngựa voi nhuốm máu ngập hào sâu!

    Cứ điểm Tập đoàn quân

    Cả Tổng hành dinh

   Giờ chẳng thấy đâu?!

   Mây vần vũ, một màu tử khí!

   Nghìn vạn sinh linh.

  Đã thành Tử Sĩ!

  Ngã xuống vô danh, trên mảnh đất này

             Thu dọn chiến trường

             Hạ cờ Chiêm!

             Kéo cờ Đại Việt lên thay

            Trên đỉnh Kì Sơn ngão nghệ tung bay!!

   Lệnh Vua truyền

   Thần tốc hành quân ngay!

   Toàn đại binh

   Hướng về Nam- thẳng tiến!

   Phía trước mặt.

   Kinh đô Đồ bàn xuất hiện!

   Trong phút giây.

   San phẳng cả thành trì!

              Chém đầu Vua Chiêm!

              Cắm mốc giới biên thuỳ.

              Võ công huy hoàng. Sử sách lưu truyền ghi!

           Bờ cõi Việt, mở mang từ thuở ấy!!

                                           ***

                          Vua xuống chiếu:

                          Những vùng đất đã lấy.

                          Nay điều dân Bắc hà.

                          Di trú vô làm ăn

                          Tổ tiên ta, từ hai châu Ái- Hoan. *15

                        Vào lập làng

                       Trên trận địa Đồ bàn!

                       Chính vùng Bãi chiến trường Cao lao hạ!

                                 Thuở sơ khai

                       Đất mênh mông, chẳng còn chi cả!

                       Ông Cha ta khai phá, gieo trồng.

                       Theo mạch nguồn, nước ngọt khơi thông

                       Tạo giòng Suối giữa đồng.

                       Thành: "Long khê cửu khúc"!

                       Bậc tiền tổ giữ gìn thế tục.

                       Nếp văn minh. Văn hiến Bắc hà!

                       Thời gian trôi, cứ vùn vụt đi qua...

                       Trên địa bàn:

                                      Hai mươi cơ doanh quân Chiêm ngày nao?

                       Dựng nhà ở, hình thành hai mươi xóm!

                                 Toàn hệ thống Luỹ- Hào thu gọn!

                                 San lấp dần:

                                 Thành LỐI thoát lũ mùa mưa!

                                 Đào giếng làng.

                                        Xây nhà HỌ.

                                                Lập Đền- Chùa.

                                  Lấy Cồn- Cui *16

                                  Làm Đàn tế thờ Xã- Tắc!!

                                  Dựng Đình làng, bái vọng cội nguồn!

                                 Mặt hướng về Phương Bắc!

Để muôn đời sau: con cháu mãi khắc ghi!

                           Rằng: Tổ tiên ta

Ngàn năm trước

Đã rời đất Bắc Kỳ!

Vào Cao lao.

Lập làng, dựng nghiệp!

       Đó là đời:

            Vua Lý- Thái- Tông oanh liệt!

            Đầu năm Thiên cảm, Thánh Võ,

            Một ngàn, bôn mươi bốn. Giáp Thân (1044)

                                        ***

            Lồng lộng tròi cao.

           Gương sáng của Tiền nhân.

            Lịch sử oai hùng

           Quá khứ liệt oanh.

            Trên dải đất linh.

              Thiên.

                          Địa

                                    Nhân

                                                 Hợp thành.

             Nơi quy tập của mọi địa hình

             Chốn hội tụ của:

                       Khí thiêng sông núi!

             Một vùng đất

 Có: Rồng Châu Hổ Phục. *16

        Địa Long Châu- là Âm *17

        Thiên Long Cửu Khúc là Dương *18

        Âm- Dương giao thoa.

        Đất- Trời giao hoà

        Mẹ- Cha- Rồng

        Hậu duệ ắt nở ra rồng

               Cao lao hạ

        Vạn đời sau, đều mãi có:

Anh Hùng- Nhân Kiệt...

                                          ***

                                                                 Người chép.

                                                               Lưu- Văn- Vạn.

                                                                 0915956589.

-------------------------------------------------------------------

*1  Tam đảo Sapa: Hai địa danh nghỉ mát ở miền Bắc.

*2  HỜI: Tên cổ của nhà nước Chiêm.

*3  Thành vua Chiêm xây đầu công nguyên, có lẽ dân ta ghét chữ Thành (Chiêm Thành) nên gọi trệch đi là Thiềng.

*4 Do quân Chiêm đào từ Hói hạ, lên Sác biềm, với mục đích chính là vận chuyển quân lương cho tập đoàn quân Cao lao hạ.

*5 Ca dao xưa truyền lại: ... "Quân Chiêm đào hói cho thuyền vào ra", chứ không phải dân đào, càng củng cố chắc chắn, Đất Cao lao là một Tập đoàn cứ điểm quân sự.

*6  Hai mươi cơ doanh lính, nằm trong tập đoàn quân Cao lao tương ứng với hai mươi thôn xóm ngày nay.

*7  Luỹ hào. Trước mặt của mỗi cơ doanh, quân Chiêm đào để ngăn đàn voi trận, ngựa chiến của quân Đại việt, nghìn năm qua, dân lấp dần, thu nhỏ làm LỐI thoát nước mùa mưa bão.

*8  Thẳng tắp Ô vuông: Trên cả giải non sông này, chẳng có một ngôi làng nào hoành tráng, độc đáo, vuông vức, xóm thôn đều chằn chẵn, thẳng tắp, song hàng như làng ta. Duy nhất chỉ có quy hoạch chính quy của một Đại bản doanh quân đội mới như vậy. Tổ tiên ta thừa hưởng địa hình có sẵn và giữ nguyên, cho dù đến vạn năm sau không thể có một quy hoạch nào ưu việt hơn.

*9 Ỷ ziốc: Quân Chiêm lập trận dựa theo binh pháp Tôn Vũ, tạo thế linh hoàn trận. Tiền hậu ứng cứu khi có biến từ doanh 1 đến 20.

*10 Nay là Đê.

*11  Nay ta vẫn gọi là Đàng Quan.

*12 Bãi Dinh: Ngày ấy ở sau cứ điểm, như tổng hành dinh Mường Făng của Đại Tướng Giáp. Chỉ huy đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên.

*13  Chính là đỉnh Chóp Cờ. Ngày ấy có lẽ cây rừng quân Chiêm chặt làm củi đun, núi còn trơ sỏi đá, nên khi cắm cờ lên đỉnh, từ phía làng (Bản Doanh) nhìn vào rất rõ, ngoảnh mặt hướng Nam, cũng là hướng của vương quốc Chiêm Thành.

*14  Ái- Hoan: Tên củ của hai tỉnh Nghệ An- Thanh Hoá.

*15 1044: Lý Thái Tông dẫn đại binh chinh phạt Chiêm quét sạch toàn hệ thống từ tiền đồn nam danh Cao lao, tiến thẳng đốt kinh đô Đồ bàn, chém đầu vua Chiêm, cắm mốc biên giới, xuống chiếu cho dân Bắc di trú vô lập quê mới. Trong đoàn người có tổ tiên ta vào lập làng từ đấy.

*16  Dãy Lệ Đệ nhấp nhô như một Đàn mãnh hổ.

*17  Địa Long Châu: Ở hai đầu trước mặt làng vồng lên như một chiếc thuyền Rồng (Long Châu) .

*18 Cửu khúc Long khê:

Vốn là một giòng suối tự nhiên, xuất phát nguồn từ Vực Sanh, chảy tràn ra đồng, ngày tổ tiên ta vào lập làng. Đã quy hoạch, nắn giòng, khơi thông, đào sâu thành một giòng suối lớn uốn lượn như một con rồng có chín khúc trùng hợp với Rồng Đời Lý. Như vậy Cửu khúc Long khê mang dáng đặc trưng Rồng Đời Lý. Do dân Đời Lý tạo thành, trùng hợp với thời đại Tổ tiên ta vào Lập làng..

Tác giả bài viết: Lưu Văn Vạn

Từ khóa: Lưu Văn Vạn
quy thai- - 18/06/2016 06:37
Thật phúc đức cho làng ta khi có những cây đa cây đề có tâm và trí luôn đau đáu nghĩ về quê hương , cống hiến cho quê hương, Bác Lưu Văn Vạn là một trong số những người đó. Tôi đã được đọc" trường ca " quê hương" của bác và lần này lại đọc "sử thi" làng tôi . Tất cả những ngôn từ, cú pháp hành văn đều " đặc sệt" CAO LAO. có những địa danh, chiến tích của cha ông mà thế hệ hậu sinh hầu như đã quên lãng thì lại được bác khơi lại, nhắc đến. có thể nói nếu như được chắt lọc, biên tập lại thật ngắn gọn thì có thể là tài liệu giáo dục truyền thống quê hương cho lớp trẻ trong các cấp thì có gì hay hơn, dễ nhớ,sâu sắc hơn.
Riêng bài " Làng tôi" theo ý chủ quan của tui thì nên tách ra hai bài thì tính lô gic cao hơn.
Bài 1: Làng tôi. dừng ở khổ thứ nhất." Phong thủy ấy hiếm nơi nào có được"
Bài 2-chưa biết đặt tên gì? nhưng đây chỉ là một khúc trong lịch sử hình thành làng CAO LAO HẠ ...
Đây chỉ là cảm nhận chủ quan mà thôi có thể chưa thật chính xác, mong Bác thông cảm.
Xin chúc Bác trường thọ và tiếp tục " tranh thủ " viết nhiều nữa về lich sử làng , phong tục, văn hóa cổ... của làng để lưu giữ mãi " nếp làng" cho hậu thế
Kính Bác
Tuấn- - 18/06/2016 18:59
Đọc xong bài "Trường ca caolao" có lẽ ai trong chúng ta cũng hình dung được lịch sử của làng. Về mức độ chính xác thì có lẽ còn phải nhiều tranh cãi, song rất hùng hồn và hoành tráng như một Khải hoàn ca của con dân Việt khi chiến thắng quân Chiêm Thành. Tất nhiên nếu mở mang bờ cõi và thu phục con dân nước Chiêm thì có lẽ tính nhân văn cao hơn, hình ảnh chém đầu vua Chiêm chiếm đất vô tình như cướp nước nên cần xem lại xem có nên đưa vào hay không? Chỉ là đôi lời mang tính cá nhân mong bác lượng thứ.
Lê Chiêu Phùng- - 19/06/2016 17:09
Cháu chưa được gặp bác lần nào nhưng được "gặp" bác qua 2 trường ca do bác sáng tác. Thật tuyệt vời khi được đọc, suy ngẫm về những câu thơ của bác.
Bác Vạn ơi, cháu chưa xin phép bác nhưng hôm nay, ngày 19 tháng 6, Câu lạc bộ thơ HƯƠNG SẮC CAO LAO tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập. Tại lễ kỷ niệm cháu đã phô tô gửi cho Câu lạc bộ và một số anh, chị em và giới thiệu trường ca LÀNG TÔI của bác. Mặc dù mới nói lên một phần rất nhỏ nội dung thôi mà bà con ta là những nhà thơ chuyên và không chuyên hết lòng ca ngợi trường ca LÀNG TÔI của bác đó...Kết thúc bài giới thiệu, cháu đọc luôn commen của anh Lê Quang Quý, bởi commen của anh Quý đã toát lên những điều mà cháu và bà con cần nói. Nhân dịp này, cháu kính chúc bác Lưu Văn Vạn sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc cùng con cháu. Bà con làng Hạ hy vọng tiếp tục được đọc những bài thơ hay của bác
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image