03:03 ICT Thứ sáu, 19/01/2018
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non

Giới thiệu Cao Lao Hạ»Cao Lao Hạ xưa

Cao Lao Hạ - Chiều sâu văn hóa của một làng quê

Thứ sáu - 05/11/2010 20:39
Anh Lê Chiêu Phùng là người bạn lính - người lái xe trong bộ phim tư liệu "Cao Lao Hạ đất Kỳ phong Long khê" của Đài truyền hình Quảng Bình mà chúng tôi đã giới thiệu trên trang Web Làng với cái tên khác là "Hạ Trạch 2009"; Anh cũng là đồng tác giả viết thuyết minh cho bộ phim đó. Cảm động làm sao khi nghe câu "Ơi những thế hệ người Cao Lao Hạ còn ở làng hay làm ăn xa! có nhớ không một thời bé dại được mẹ, được bà cho ăn một vắt xôi nhỏ bằng quả cau mang phần về từ những đám tiệc?...". Chân thành cám ơn Anh về những hoạt động mà Anh đã làm cho Làng và xin giới thiệu toàn văn bài thuyết minh phim do Anh và Thế Tường soạn thảo.

 

Một ngày hè oi ả, gió lào ngùn ngụt thổi, chúng tôi về thăm xã Hạ Trạch thuộc huyện Bố Trạch mà danh xưng trong quá khứ là làng Cao Lao Hạ, người bản địa vẫn tự hào gọi là đất Kỳ Phong - Long Khê.

 

Kỳ Phong là ngọn núi, đúng hơn là một quả đồi cao nằm trong dãy Lệ Đệ tách ra từ dãy Trường Sơn nhấp nhô trăm ngọn chạy ngang ra tận biển. Từ đỉnh Kỳ Phong nhìn về hướng Bắc, mảnh đất Cao Lao Hạ trải rộng phẳng phiu. Ruộng đồng không rộng lắm, đất đai không màu mỡ lắm. Và xóm làng! Một vệt làng mỏng, gầy, bình dị bám theo hình sông, đoạn sông Linh Giang hợp thuỷ bởi rào Nậy và nguồn Son chảy ra biển. Ở Quảng Bình có những địa danh cổ là một làng nay thành địa giới của một xã, như làng Lệ Sơn nay là xã Văn Hoá, Thanh Lạng rộng hơn rất nhiều so với xã Thanh Hoá... Cao Lao Hạ cũng vậy, đất và người của làng cũng chính là quy mô của xã Hạ Trạch hiện nay. Cái sự trùng khớp giữa làng cổ và xã mới khiến cho việc kiến thiết nông thôn, xây dựng trung tâm văn hóa, chùa chiền miếu mão, cả việc lớn lao như xây đình làng cũng được xã đứng ra lo liệu. Đã được dự nhiều hội làng, nhưng thật hiếm thấy một sự tập hợp nào hoành tráng như lễ động thổ xây đình làng Cao Lao Hạ. Hàng trăm con cháu và gia quyến từ khắp nơi trong nước kéo về. Gần toàn bộ nam phủ, lão ấu ở làng đều có mặt. Trước lễ động thổ, các vị chức sắc cùng 24 trưởng tộc thắp hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến gìn giữ và bảo vệ Tổ quốc.

 

Tấm bản đồ cổ của làng Cao Lao Hạ còn thể hiện ngọn Kỳ Sơn trên dãy Lệ Đệ và một con hói bắt nguồn từ chân núi uốn khúc nhiều đoạn chảy ra Bàu Một rồi đảo chiều qua tòa cổ thành nay đã thành phế tích. Ngày nay, công cuộc canh tác đã dần dần xoá đi dấu vết của con hói. Và, có thể lạch nước này cũng không uốn khúc tới chín lần để gọi là cửu khúc Long Khê. Đất cửu khúc long khê là đất địa linh: “Cửu khúc nhập Minh Đường văn chương bất tuyệt”. Giữa thế kỷ XVI, cách đây gần 500 năm, tiến sỹ Dương Văn An đã nhắc đến Cao Lao Hạ như một vùng đất có nhiều người chuộng văn chương. Thế kỷ XX có các cụ Lưu Trọng Tuần viết Cao Lao hương sử bằng lục bát cũng là một tác phẩm nghệ thuật, các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Lưu Kỳ Linh... Thông thường, đất địa linh thuộc dạng đất tấn thổ, tựa lưng vào núi, trong ra bàu hoặc sông, ruộng. Hạ Trạch thì ngược lại: Đất tiền sơn hậu thuỷ, trước mặt là núi sau lưng là sông. Toàn bộ dân cư 20 xóm của Hạ Trạch cũng như 24 nhà thờ họ đều trở mặt về hướng Nam, về hướng núi, nhưng đình làng lại quay về phía Bắc, ra bờ sông Gianh. Có thể từ ngày xưa các cụ đã thấy được điều bất lợi nếu làm nhà quay ra sông thì ngược gió Đông - Bắc. Nhà quay về hướng Nam vừa thuận lại lấy được dãy Lệ Đệ làm án dễ phát đường học hành. Đình làng quay về hướng Bắc để đón linh khí của hai dòng nguồn Son và nguồn Nậy toả về. “Hướng nhà đều ở Nam Phương. Hình làng như một chiếc thuyền long châu".

 

Người Hạ Trạch nhỏ nhẹ, hiền lành nhưng học gì, làm ăn ở đâu cũng thành đạt, cũng để lại ấn tượng rất tốt. Thế kỷ 19 cụ Lưu Đức Bình đậu phó Bảng làm tri huyện Nghi Xuân, ông rất bình dị, gần dân, vừa làm quan vừa dạy học hàng trăm nho sỹ, khi vua chỉ dụ về kinh, dân bản địa thương mến làm tờ biểu xin lưu lại thêm 6 năm nữa. Con trai là Lưu Điệt làm tướng dưới cờ Cần Vương Lê Mô Khải, con trai là Lưu Đức Xưng đỗ cử nhân làm đến thượng thư đồng tác giả bộ Đại nam nhất thống chí với các ông Cao Xuân Dục, Trần Sán và sách Quảng Bình khoa lục. Hậu duệ là các ông cử nhân Lưu Trọng Tiến, cử nhân Lưu Đức Tuân. Ngoài ra còn các bậc khoa bảng khác như phó bảng Đặng Văn Thái, các ông cử nhân Lưu Lượng, Lê Văn Giản, Nguyễn Khoan Hoàng, Nguyễn Văn Khu. Võ quan có các ông Lê Quang Chánh, lãnh Hoà, Lãnh Niệm, Quyền Cửu, Võ Sồi, Võ Ngôn, Võ Giả, Đội Quyền, Võ Kham từng giúp Lê Mô Khải, Phan Đình Phùng trong phong trào Cần Vương. Đặc biệt là danh nhân Lê Mô Khải tục gọi là Lê Mô Khởi, đỗ cử nhân triều Tự Đức làm quan ở Bình Định, Hải Dương. Khi vua Hàm Nghi xuất bôn, Lê Mô Khải ứng chiếu tập hợp binh tráng vùng Cao Lao lập căn cứ ở trại Nái (vùng Ba Trại ngày nay) chống Pháp ròng rã gần 3 năm. Ngày nay, đất, nước và truyền thống văn hoá hiếu học của Cao Lao Hạ đã góp phần sản sinh nhiều vị tướng lĩnh, nhiều nhà văn hoá và doanh nghiệp thành đạt. Điển hình như Trung tướng Lê Văn Tri - Tư lệnh quân chủng phòng không không quân thời đánh Mỹ, Trung tướng Lưu Bá Xảo, Thiếu tướng Lưu  Dương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình thời kỳ chống Mỹ Lưu Văn Đăng, hàng chục vị mang hàm đại tá, hơn 20 tiến sỹ, trên 500 cử nhân…

 

Đất Cao lao Hạ là đất cổ. Nơi đây, người Lâm Ấp, người Chàm từng chọn làm thủ phủ. Sử chép: Năm xích ô thứ 11 tức 248, Lâm ấp chiếm được Khu Túc, Tôn quyền sai Lục Dận làm thứ sử Giao Châu An Nam Hiệu Uý, đem ấn tín hiểu dụ, người Lâm ấp mới nghỉ việc binh nhưng vẫn giữ Khu Túc. Ở Khu Túc, Lâm ấp đã xây một thành luỹ quân sự quan trọng. Nhiều nhà sử học cho rằng Khu Túc Là vùng đất Cao Lao Hạ, Bố Trạch trên hữu ngạn sông Gianh. Người Cao Lao Hạ gọi toà phế thành này là thiềng Kẻ Hạ, gọi chệch từ thành Kẻ Hạ. Chúng tôi đi dọc theo đường thần đạo của toà cổ thành có trục Bắc Nam. 1.800 năm trôi qua kể từ khi thủ lĩnh Khu Liên lập nước Lâm ấp rồi sau đó là Chiêm Thành, thành lồi - Thiềng Kẻ Hạ - Khu Túc chỉ còn lại những khối đá lớn nằm trơ gan cùng tuế nguyệt. Ở Cao lao Hạ có địa danh khác, hẳn cũng tồn tại qua ngàn năm là Đồng Phố. Người bản địa cho rằng có thể ngàn năm trước nên bãi đất phẳng này từng là một khu dân cư, phố xá sầm uất tương ứng với khu Thành trì kia. Thời gian với bao biến động của thiên nhiên, của lịch sử đã hầu như xoá sạch dấu tích một toà thành, một khu dân cư, chỉ còn lại đâu đó những mẩu gạch ngói nát vụn dưới xá cày của nông phu. Phía Đông Bắc Hạ Trạch có một rừng cây bần ngập mặn chạy dọc sông Gianh mà bà con gọi là rừng sác - trong phép phong thuỷ đây là huyền vũcủa làng chắn sóng cho một dải đê và chắn gió cho cả vùng dân cư.

 

Đình làng Cao Lao Hạ đã có từ hàng trăm năm, trải 2 cuộc chiến tranh đã bị san bằng, may thay còn lưu lại được 2 trụ biểu khá hoành tráng minh chứng một ngôi đình bề thế trong quá khứ. Đôi câu đối trên trụ biểu cũng thể hiện được vượng khí của làng trong cộng đồng vùng miền và cả nước: Thiên khai thịnh hội quang cường tịnh/địa xuất danh hiền duyệt cổ kim. Nghiã là: Trời mở nơi cường thịnh sầm uất giàu mạnh/ đất sinh người tài danh xưa nay. Nguyên khai canh là các ngài Lưu Văn Tiên hàm Đại tướng quân, Ngài được tôn là Thành Hoàng làng, ngài Đại tướng quân Nguyễn Văn Khai, ngài Triệu phong Lê Quang Lữ và các vị khai khẩn Lưu Văn, Lê Văn, Lê Quang, Lê Chiêu…cùng các vị 24 họ tộc khác. Ở Cao Lao Hạ từng có một thiết chế độc đáo gọi là “Hội nhà Văn” kiến trúc 3 gian 2 chái là nơi thờ phụng các vị tổ sư đạo nho, hội ngộ môn sinh sỹ tử và các khoa bảng. Lại có ‘Hội nhà võ” là một võ đài dành cho những võ sư, võ sinh và những người theo binh nghiệp luyện tập võ nghệ bảo vệ quê hương đất nước.

 

Trong buổi lễ xây dựng lại Đình làng có các vị không phải chức sắc nhưng đặc biệt được tôn kính. Đó là 24 vị trưởng tộc. Đây là một nét độc đáo nữa của Cao Lao Hạ. Các vị chức sắc dâng hương lên tiền nhân. Sau nữa là nam phụ lão ấu quây quần đánh chén. Đặc biệt là cách dùng xôi thịt giữa đình làng. Cuộc tiệc này không câu nệ văn minh bát đũa. Con người với con người, con nhà bà làng trải lòng với nhau, với thiên nhiên trời đất. ăn xôi giữa đình làng phải bốc bằng tay mới ngon, mới thật bụng. Cũng phải là cuộc tiệc theo không khí dân chủ người phụ nữ và trẻ con mới được dự tiệc giữa đình. Khi tiệc tàn, những người mẹ, người bà mới thể hiện hết tấm lòng bao dung với con trẻ. Hạ Trạch không còn hộ đói, rất ít hộ nghèo, mùa về mỗi nhà thu hoạch hàng tấn thóc nếp. Nhưng nắm xôi giữa đình làng mang về nhà có ý nghĩa hết sức lớn lao. Ơi những thế hệ người Cao Lao Hạ còn ở làng hay làm ăn xa! có nhớ không một thời bé dại được mẹ, được bà cho ăn một vắt xôi nhỏ bằng quả cau mang phần về từ những đám tiệc? chính những chăm sóc nho nhỏ này là ngọn lửa nhỏ sưởi ấm con tim bao thế hệ mạnh bước qua bấn loạn, qua chớp bể mưa nguồn tạo dựng được một dấu ấn rất tốt của Người Cao Lao Hạ trên mỗi bước đường mưu sinh.

 

Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin mượn lời nhà thơ, nhà văn hoá lớn, một người con của Cao Lao Hạ ra đi từ thuở thiếu thời ngày trở về thăm làng trên đầu phong sương trắng xoá đã thảng thốt lên rằng:

 

Quê hương ơi! chiều nay ta trở lại với người

Soi mái tóc thời gian lên vỏ sò vỏ hến

Như đứa trẻ muốn lăn mình trên cát mịn

Một đời tôi lăn đi lăn lại biết bao ngoai

Hỏi những gì còn dính da dính thịt

 

Những người con của đất Kỳ Phong - Long Khê hôm nay có bao giờ nghĩ như vậy không, có thử lăn mình trên bờ đê Linh Giang hay chân núi Kỳ Phong để tự hỏi mình về những niềm yêu với quê làng Cao Lao Hạ ?!

 

                                              

Tác giả bài viết: Lê Chiêu Phùng và Thế Tường

Từ khóa: Lê Chiêu Phùng
Lê Hồng Vệ- - 08/11/2010 20:45
Tôi chưa biết về Anh. Nhưng đọc " Cò ơi? răng chưa thấy bay về". Lại đọc tiếp caolao đất kỳ phong long khê.Tôi thấy ở Anh có một tình cảm vô bờ với quê hương nơi Anh đang công tác.Lời văn cứa vào tim can lòng người.Tính thời sự của nó cũng không kém phần sắc sảo.Anh đã làm cho vùng đất cổ Caolao sống dậy. Cám ơn Anh, cám ơn BBT, cám ơn người lập ra trang web đã nhắn gửi lại cho hậu thế, cái sự sống rất đỗi con người, cái sự mộc mạc thân thương của quê hương giàu tình giàu nghĩa.Thank
Reng reng- - 17/11/2010 20:51
Hay quá anh Phùng ơi.Cảm phục và cảm ơn anh.
thai- - 20/08/2011 10:53
Tôi đã đọc rất kỹ những bài viết về lịch sử làng cao lao hạ về mảnh đất. các bài viết đều đã làm rõ các địa danh như : Đình làng; hệ thống đền chùa, miếu mạo, quy hoạch lối xóm... tuy nhiên còn mộtý nữa mà tôi tìm mãi chưa ai nhắc tới là TÊN 20 xóm : xóm1: là CAO THÀNH ; xóm 2: là CAO NAM; xóm 3: là CAO BIỀN...xóm 6: là CAO ĐÌNH...vì vậy nhờ anh Phùng và ban biên tập sưu tầm bổ sung thêm để nhớ lại, chúng tôi lâu qua rồi cũng quên mất.
Thành Đức- - 20/08/2011 11:20
Ý kiến của anh Qúy đúng quá. Trong bài viết "Lịch sử hình thành và phát triển làng Cao Lao Hạ" (bài viết đã được dịch ra tiếng Anh) anh Lưu Đức Hải đã thống kê đuọc như sau: "Năm 1955, trong đợt giảm tô, làng Cao Lao Hạ được phân chia ra nhiều thôn mới, theo nguyên tắc chọn lấy địa hình của mỗi thôn làm gốc là chính, rồi ghép chữ Cao, làm từ đầu để đặt tên thôn như: thôn Cao Nam, thôn Cao Thành, Cao Biền, Cao Xạ, Cao Đình, Cao Trường, Cao Lưu, Cao Đông, Cao Tây, Cao Đài, Cao Đức, Cao Phúc, Cao Đồng". Không biết các thống kê trên đã chưa,bà con nào biết thêm thì cung cấp cho Ban biên tập bổ sung hoàn chỉnh như ý kiến gợi ý của anh Quý
Vô Va- - 10/09/2016 13:23
Quê hương ơi! chiều nay ta trở lại với người

Soi mái tóc thời gian lên vỏ sò vỏ hến

Như đứa trẻ muốn lăn mình trên cát mịn

Một đời tôi lăn đi lăn lại biết bao ngoai

Hỏi những gì còn dính da dính thịt
1, 2  Trang sau
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image