03:05 ICT Thứ sáu, 19/01/2018
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non

Giới thiệu Cao Lao Hạ»Cao Lao Hạ xưa

Thành Cao Lao Hạ

Thứ ba - 24/04/2012 06:40
Dấu ấn văn hoá Chămpa ở Quảng Bình

 

 

Không như những toà thành khác hiện diện trên dải đất miền Trung, thành Cao Lao Hạ ở Hạ Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình dường như bị bỏ quên trong chính sử, kể cả Đồ Bàn thành ký - cuốn sử liệu ghi chép, khảo tả rất nhiều toà thành thời kỳ vương quốc Chămpa cũng không nhắc tới.

 

Miên Trung nói chung, Quảng Bình nói riêng là vùng đất thiên nhiên khắc nghiệt, từng là chiến trường với nhiều cuộc can qua; vùng đất biên viễn, vùng được xem là phên dậu của Đại Việt - vùng đất của  sự  đổi thay đầy biến động qua nhiều thời kỳ lịch sử. Vì thế mà nơi đây tồn tại nhiều thành luỹ Chăm pa như: thành Tra (Cha) (Bình định); thành Cổ Luỹ (Quảng Ngãi); Vệ Thành (Quảng Nam); thành Hoá Châu, thành Cổ Lai Trung, thành Lồi (Thừa Thiên - Huế)... và nhiều toà thành lớn nhỏ khác. Vì vậy, tìm hiểu sự tồn tại và diễn biến lịch sử của các toà thành qua từng thời kỳ lịch sử đưa chúng ta về với cội nguồn dân tộc về một quá khứ hào hùng, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hoá của một đất nước, một vùng đất.

 

Thành Cao Lao Hạ được xây dựng trên triền đất cao, thoáng, nay thuộc địa phận xã Hạ Trạch, theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, cách cầu Gianh khoảng 1 km về phía Tây - Nam. Con đường giao thông liên xã tách ra từ Quốc lộ 1A nối xã Hạ Trạch với Mỹ Trạch được mở đi ngang qua luỹ thanh, cắt toà thành làm hai nửa khá đều nhau (con đường ngày nay đã bị phá bỏ). Thành ở vị trí khá hiểm yếu, núi bọc phái Tây - Nam vòng sang Đông - Nam, sông lớn (sông Gianh) chảy ở phía Tây - Bắc sang Đông - Bắc ; xung quanh thành là ruộng đồng phì nhiêu và hệ thống sông ngòi khá thuận lợi về mặt giao thông.

 

Thành có hình dạng chữ nhật, các luỹ thành cao thấp không đều nhau; luỹ thành hướng Đông - Bắc dài 197m , rộng  5,6m, cao 2,5m, rộng chân 10,5m, luỹ thành hướng Đông - Nam dài 255m, rộng 5,5m, cao 2,2m, rộng chân 11,3m, luỹ thành hướng Tây - Bắc dài 255m, rộng 6m, cao 1,8m, rộng chân 11,7m. Toà thành có diện tích không lớn nhưng nó đã từng là trung tâm hành chính của một vùng đất, một vương quốc. Nó minh chứng những thành tựu văn hoá và khoa học kỹ thuật của một giai đoạn, một dân tộc trong lịch sử.

 

Mỗi vùng đất đều là nơi cư trú và sinh sống của cư dân bản địa, nơi đó và lịch sử  của toà thành có thể là công trình phòng thủ ban đầu của những con người bản địa. Cho đến thời thuộc Hán, nơi  đây lại trở thành trung tâm, lỵ, sở của một chế độ mới. Và sau cuộc nổi dậy của Khu Liên (Đại Nam nhất thống chí), người Chăm tiếp tục xây dựng tu bổ thêm toà thành của mình trên nền đất cũ của người Hán. Theo nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Chămpa Trần Kỳ Phương, một trong các bi ký ở Mỹ Sơn (Quảng Nam) có đề cập đến một tiểu vương quốc Chăm có tên gọi là Ragdrapura, nằm ở một trong các cửa sông vùng Quảng Bình (có thể là sông Gianh hay sông Roòn...) với những điều kiện cần và đủ về địa lý và địa hình để hình thành, có thể tiểu vương quốc này ở vào lưu vực sông Gianh mà thành Cao Lao Hạ là trung tâm hành chính cũng theo đó, mô hình của toà thành không lớn, chỉ là vòng thành bảo vệ tư dinh của thủ lĩnh, những tồn tại trong nó là những kiến trúc gỗ xứng tầm với vị trí của người đứng đầu. Và về sau trong quá trình Nam tiến, người Việt đã tái sử dụng chúng trong  điều kiện nhân, vật lực hạn hẹp buổi đầu. Điều này thể hiện trong cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn kéo dài từ năm 1627 đến năm 1672 mà nơi đây là vùng tranh chấp.

 

Sau khi người Chăm thành lập quốc gia của họ mà biên giới kéo dài đến tận Hoành Sơn, thành Cao Lao Hạ là nơi đồn trú quân binh vùng biên viễn, bởi “vì biên thuỳ là nơi trọng địa, đắp thành nơi ấy để đóng quân, chứ không phải  là kinh đô của nước ấy.”

 

Đến nay, những toà thành (vương quốc Chămpa) ở các tỉnh miền Trung luôn gắn với những tồn nghi lịch sử, thành Lồi Kẻ Hạ cũng như vậy. Theo học giả Đào Duy Anh thì huyện thành Tây Quyển, một trong năm huyện của quận Nhật Nam thời thuộc Hán và cũng là thành Khu Túc, thành của vương quốc Lâm Ấp buổi sơ khai. Tuy nhiên, với những thư tịch và tài liệu khảo sát hiện nay khó có khả năng đây là thành khu Túc - thành Lâm Ấp buổi sơ khai. Những ghi chép của Thuỷ  kinh chú khi chỉ dẫn sách Thuỷ kinh về Khu Túc như sau: “thành xây giữa hai con sông là Lô Dung và Thọ Linh, chu vi 6 dặm, 170 bộ, xây gạch cao 2 trượng, trên thành lại có tường  cao 1 trượng, có nhiều lỗ vuông, trên tường gạch có lát ván dựng 5 tầng gác có nóc, trên nóc có lầu, lầu cao từ 7 - 8 trượng, thấp cũng 5-6 trượng, thành có 13 cửa, tất cả cung điện đều quay về hướng Nam. Chung quanh thành có 2100 ngôi nhà”. Với quy mô như thế thì thành Cao Lao Hạ không hề gọi là thành Khu Túc được, có thể đây là sự nhầm lẫn.

 

Những dấu tích, những tư liệu lịch sử và những kiến giải về địa điểm, tên gọi của thành Cao Lao Hạ cho chúng ta thấy, một căn cứ quân sự quan trọng đã hiện diện ở vùng đất này. Qua bao biến động lịch sử phức tạp nảy sinh từ mối bang giao thăng trầm của hai vương quốc Đại Việt và Chămpa. Và trong những dấu tích hiện hữu đó, có thể thấy được vùng đất này, nơi mà chiến tranh đã để lại một tòa thành, một di sản văn hóa vật thể ẩn chứa tài năng, trí tuệ của cư dân chămpa có mặt ở đây khá sớm. Công trình thành lũy ấy là minh chứng sự tài hoa của người xưa qua kiến trúc, qua cách xây dựng, đó là tinh hoa, là dấu ấn văn hoá đặc sắc, độc đáo của cư dân Chămpa trên đất Quảng Bình gần 10 thế kỷ (từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 11 sau công nguyên).

 

Tác giả bài viết: Tạ Nghĩa

Nguồn tin: Tạp chí Nhật Lệ ngày 28/12/2010

Từ khóa: Tạ Nghĩa
Lê Chiêu Chung- - 24/04/2012 09:35
Tạ Nghĩa là bút danh của anh Tạ Đình Hà nguyên giảng viên Sử học trường Đại học Huế, Trưởng Ban Quản lý di tích tỉnh Quảng Bình, nay là Trưởng phòng Quản lý Nghiệp vụ Văn hóa thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Bình. Quê anh làng La Hà, xã Quảng Văn-Quảng Trạch, anh đã từng đưa Giáo sư Trần Quốc Vượng về khảo cổ thành Cao Lao Hạ, khi qua cổng đình làng, GS đã dừng lại đọc các câu đối trên trụ cổng và không ngớt lời khen ngợi. Anh rất thông hiểu và cảm mến đất và người Cao Lao Hạ. Cảm ơn anh nhiều./.
Ban biên tập- - 24/04/2012 09:51
Trong quá trình tìm kiếm các bài viết về Cao Lao Hạ để đăng lên caolaoha.com, trên google, Ban biên tập đã tìm được bài Thành Cao Lao Hạ của Tạ Nghĩa, đăng trên tạp chí Nhật Lệ ngày 28/12/2010. Ban biên tập rất cảm khích, nhưng chưa biết tác giả là ai, nay được Lê Chiêu Chung cho biết anh là người con của làng La Hà, một vùng quê cúng rất nổi tiếng của Quảng Bình. Cám ơn anh Lê Chiêu Chung và nhờ anh chuyển lời cám ơn của bà con Cao Lao Hạ tới anh Tạ Nghĩa.
soichieule- - 25/04/2012 08:09
Thành Caolaoha có vị trí rất đặc biệt, khi ta đứng ở đây nhìn về hướng đông nam sẻ thấy được ngọn núi Đầu mâu (phía Nam Quảng Bình), có lẻ duy nhất ở vị trí hiểm yếu này mới thấy được, vì chỉ cần dịch xuống Xóm 3 hay lên Dập dái sang phía Mỹ Trạch thì đỉnh núi Đầu mâu bị dãy Lệ Đệ che mất. Thời xưa một trong các công cụ truyền tin là bằng lửa, vì vậy khi đốt lửa ở Thành Caolao thì phía Núi Đầu mâu thấy được và ngược lại. Những ngày trời đẹp từ Thành Cao lao nhìn qua giữa hòn Thầy bói và Hòn Trùa thấy ngọn Đầu mâu như là Tháp bút rất đẹp, cho thấy vị trí phong thuỷ của toà thành ngoài vị trí chiến lược về quân sự thì còn là vị trí đẹp để xây dựng một trung tâm hành chính, tư dinh của thủ lĩnh ...
truongluu caolao- - 25/04/2012 09:25
Rất cám ơn bài viết của Tạ Nghĩa cho ta thêm 1 phán đoán nữa về Thành Cao Lao Hạ. Không biết đến bao giờ ta mới biết được đích xác Thành Cao Lao Hạ ai làm? tên gì? nhằm mục đích gì và cư dân hồi đấy là ai , sống ra sao. Chắc phải chờ có những công trình đúng mức đúng tầm kết hợp với khảo cổ thì may ra ta mới có được những kết luận có thể tin tưởng được. Còn bây giờ thì sao?.Hãy nghe Nguyễn Phước Bảo Đàn(*) trong bài viết "Thành Lồi ở Huế: từ vị trí toạ lạc đến bối cảnh Thuận Hoá buổi đầu" khi nói về thành " Khu Túc": " Cổ sử từng đề cập đến toà thành Champa mang tên gọi Khu Túc, toạ lạc ở khu vực Bình-Trị-Thiên-toà thành đầu tiên khi người Chăm lập quốc, và gắn liền sự kiện xuất hiện quốc gia Lâm Ấp (Lin-Yi) sau cuộc nổi dậy của Khu Liên năm 192 B.C (Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trịnh sớ...,2005; Đặng Xuân Bảng, 1997; Đào Duy Anh, 1994; Thái Văn Kiểm, 1960 v.v...). Bởi rất nhiều lý do, cho đến hiện nay, vị trí chính xác của toà thành này vẫn đang còn là ẩn số của lịch sử và đang gây nhiều tranh cãi: (1). Khu Túc là thành Phật Thệ [thành Phật Thệ cũng đang là ẩn số] (Quốc Sử Quán triều Nguyễn, 1969); (2). Khu Túc là thành Lồi ở Thuỷ Xuân-Huế (Thái Văn Kiểm, 1960: 7); (3). Khu Túc chính là Hoá Châu thành (Lê Văn Hảo, 1979: 47-51; Trần Đại Vinh, 1995); (4). Khu Túc là thành Cao Lao Hạ (Bố Trạch-Quảng Bình) (Đào Duy Anh, 1994: 68-70; Ngô Văn Doanh, 2003). Hay trong phần Chú Thích: Chú thích: (*) Phân viện Nghiên cứu Văn hoá-Thông tin tại Huế (193). Về ngữ nghĩa của từ "lồi" (thành lồi, miếu lồi, tượng Phật lồi v.v ) xin xem thêm: Tạ Chí Đại Trường, 2006; Hoàng Dũng, 1991; Nguyễn Hữu Thông, 1994; Nguyễn Phước Bảo Đàn, 1999, 2001a, 2001b v.v... (194). Về thành Khu Túc: - Đại Nam nhất thống chí-mục cổ tích-tỉnh Quảng Bình lại chép: "phế thành Lâm Ấp ở xã Trung Ái, huyện Bình Chính, từ núi Thành Thang chạy dài đến các xã Tô Xá, Vân Tập, Phù Lưu, vượt núi qua khe, đều có ụ đất, đứt từng đoạn, tương truyền đó là thành Lâm Ấp, phía Nam có Linh Thuỷ, nghi đây là thành Khu Túc hoặc luỹ cũ của Hoàn Vương" (Quốc sử quán triều Nguyễn, 1969). - Thuỷ Kinh chú sớ: "[...] hai con sông Lô Dung và Thọ Linh. Sông Lô Dung ra từ núi cao ở phía Nam thành Khu Túc chảy về phía tây nam. Ở phía nam núi, dãy núi dài tiếp liền với các ngọn núi ở phía Tây như bức màn che tự nhiên. Sông Lô Dung gom nước ở núi Ẩn Sơn đi vòng quanh phía tây, bao phía bắc, rồi chảy về phía đông đi qua phía bắc thành Khu Túc, lại chảy về phía đông, hợp với sông Thọ Linh ở phía bên phải, sông ra từ biên giới huyện Thọ Linh" (Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh sớ...,2005: 358-359). "Thành Khu Túc là tên thành của nước Lâm Ấp cổ. Xưa ta quen gọi là thành Khu Túc, chính ra phải gọi là thành Âu Túc. Âu là khu viết chữ Hán như nhau nhưng có hai âm đọc: một là khu, một là âu (đơn vị đo lường, một âu bằng 16 thăng). Một thuyết nói thành này ở bờ nam sông Hương tỉnh Thừa Thiên, một thuyết nói ở thôn Cao Lao Hạ ở bờ nam sông Gianh tỉnh Quảng Bình nước Việt Nam ngày nay. Chu vi thành khoảng hơn 6 dặm, ở khoảng giữa ba con sông, 3 phía giáp núi, phía bắc, phía nam trông xuống sông, hình thế hiểm yếu (theo Từ Hải) (Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh sớ...2005: 361). "Thành ấy phía ngoài hào thành là rừng cây có gai rậm rạp, các loài cây tạp um tùm, mây gai cuộn, trúc quế sinh. Hội Trinh chú: quế là tên một loại trúc. Theo Trung Sơn kinh, núi Bính Sơn có nhiều cây trúc quế, chen nhau mọc ngút trời, trong đó cây quế thơm mọc thành rừng, không khí trong sạch, mây mù lắng đọng" (Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh sở..., 2005: 385-386). "[...] thành Khu Túc phía nam sông Hoài, đi lên phía bắc sông Hoài, phải qua Bành Long; lại đi lên phía bắc đến Khu Túc, thành Khu Túc ở biên giới phía bắc thành Lâm Ấp, thành Khu Túc cách thành Lâm Ấp hơn 400 dặm (Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh sớ...2005: 388) Về quy mô của Khu Túc, rất nhiều sử liệu đầu thống nhất ở quy mô của toà thành rất lớn: - "Thành Khu Túc: chu vi 6 dặm, 170 bộ, đông tây đo được650 bộ, thành xây bằng gạch cao 2 trượng, ở trên xây tường gạch cao một trượng trổ lỗ vuông. Trên gạch thì lát ván, trên ván có gác 5 tầng, trên gác có mái, trên mái có lầu, lầu cái cao là 7,8 trượng; cái thấp là 5,6 trượng... Thành mở 13 cửa, các điện đều hướng về phía nam...nhà có hơn 2100 gian, chợ búa dân cư ở xung quanh. Núi đá cao rất hiểm trở, cho nên binh khí, chiến cụ của nước Lâm Ấp đều để tất cả tại thành Khu Túc. Có nhiều thành luỹ, bắt đầu từ vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt" (Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh sớ...2005: 362). - "Theo An Nam chí lược, "trong thành có thành nhỏ, cuh vi 320 bộ, tất cả nhà đều là điện lợp ngói, tường phía nam không mở, nhà dài ở hai đầu, nóc nhà theo chiều nam bắc. Phần giống như mặt sau của phía nam gọi là thành ở khu tây, trong thành có núi đá, thuận theo dòng sông Hoài, mặt hướng về phía Nam, điện mở cửa về hướng đông, nào mái đuôi diều, nào cửa xanh thềm đỏ, nào rui dài xà vuông, phần nhiều làm theo lối cổ. Cột trên của điện gác cao hơn thành 1,5 trượng, tường trát phân trâu, màu xanh lục vòng quanh, của nách cong, của sổ đẹp, buồng Hoàng hậu ở có của sổ màu tím, buồng các cung tần không có gì khác, cung quán [...], lộ tẩm [...], vĩnh hạng [...]. Nhà có hơn 50 khu, thành dài liên tiếp, nhà cửa nối tiếp nhau. Đền thần, tháp quỷ lớn, nhỏ, 8 ngôi, trên đài cao có tạ [nhà gỗ làm trên đài cao] tầng, hình giống như chùa thờ Phật. Thành ngoài không có phố xá, làng xóm, thôn ấp it có người ở, bờ biền tiêu điều, không phải là nơi nhân dân ở được, thế mà người cầm đầu vẫn ở yên lâu dài, duy trì nước được 10 đời, há có thể tồn tại lâu dài được nữa ư (Thời Nguyên Gia, Đàn Hoà Chi đánh Lâm Ấp, Dương Mại vua nước ấy ban đêm đem cả nước chạy vào rừng, Hoà Chi chiếm được thành ấp của họ, thu được của báu rất nhiều)" (Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh sớ...2005: 384)." Hay trong bài:"Thành Phật Thệ kinh đô cũ của Chiêm Thành" của Hồ Đắc Duy thì viết:"Sách Đại Việt Sử Ký Tiền Biên của Ngô Thì Sĩ trang 172 chép : “ năm 1001 vua Chiêm là Dương Phổ Câu Tỳ Trà Xá Lị tránh quân ta chay về thành Phật Thệ cách xa kinh đô củ 700 dặm ...” với ghi chú Phật Thành là Phật Thệ ở Bình Định (ĐNNTC ghi chú từ Quãng Bình đến Bình Định là 700 dặm ) Sách Đại Nam Nhất Thống Chí trang 245 chép : “ Lý Thái Tông thân đi đánh Chiêm Thành , Sạ Đẩu chống cự , bày trận bên sông Bố Chính , Quách Gia Di xông trận chém được Sạ Đẩu , rồi kéo quan vào thành Phật Thệ... ” Tấn Linh Giang trước là cửa biễn Bố Chính , Linh Giang là sông Gianh Vậy thành Phật Thệ là Thành Lồi ở Huế hay là Chà Bàn ở Qui Nhơn và trận chiến mà vua Chiêm Sạ Đẩu bị Quách Gia Di chém đầu xảy ra ở Bố Chính ( Bố Trạch – Quãng Bình ) hoặc Sông Bồ ( Ngũ Bồ ? ) Hương Trà – Phong Điền Thừa Thiên hay là xãy ra ở Thu Bồn – Duy Xuyên - Hội An Quãng Nam ?". Ông viết thêm trong bài viết này:"Có rất nhiều giả thiết về tên gọi, vị trí và vai trò của Thành Lồi ở Huế và Thành Khu Túc ở Quảng Bình qua các thời kỳ lịch sử, tất cả đang là những tồn nghi. Theo nghiên cứu của G.S Trần Quốc Vượng, thành có niên đại vào khoảng thế kỷ V - VI (niên đại thành Trà Kiệu). Nếu gọi Thành Lồi là Khu Túc thì khi tra cứu trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT ) trang 175 và KĐVSTGCM trang 161 thì Khu Túc còn được gọi là thành Khu Lật thuộc châu Bố Chính nơi mà Đàn Hòa Chi chém tướng Phạm Phù Long của Chiêm Thành năm 446 ( 436 ) theo Dào Duy Anh thỉ thành này nằm ờ Cao Lao Hạ ( Hạ Trạch , Bố Trạch - Quãng Bình ) Cao Lao mà có lần Dương văn An trong Ô Châu Cận Lục (OCCL) nói “ kẻ dâm phụ làng Cao Lao , ác tâm giết cả chồng ” , tìm trong các sách OCCL và ĐNNTC không thấy nhắc đến tên của thành này ." (Ghi chú: Tài liệu tham khảo : Khâm Định Đại Nam Hội Điễn Sự Lệ , Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu , Đại Nam Nhất Thống Chí , Ô Châu Cận Lục , Đại Việt Sử Ký Toàn Thư , Đại Việt Sử Ký Tiền Biên..). Thế mới biết rằng tìm ra "gốc" cho Thành Lao Hạ thật khó bao nhiêu. Nhưng cũng vì vậy mà các nhà thơ Đường Luật của CLH tha hồ mà vung bút. Để kết thúc comment này TLCL xin lấy câu trong bài "Thành Xưa" của Quythaist :"Giang sơn có lúc còn suy - thịnh.Thành vẫn trường tồn giữa ánh dương." để nói thêm rằng mảnh đất nơi ta sinh ra và lớn lên thật có nhiều " linh khí". Thân mến. TLCL
levan- - 06/06/2012 07:59
Vài suy nghĩ gửi đến các nhà nghiên cứu lịch sử: Theo như các tài liệu mà anh TLCL đã dẫn thì thành Khu Túc tồn tại từ khoảng năm 413-605. Thành Khu Túc: chu vi 6 dặm, 170 bộ, đông tây đo được650 bộ, thành xây bằng gạch cao 2 trượng, ở trên xây tường gạch cao một trượng trổ lỗ vuông. Trên gạch thì lát ván, trên ván có gác 5 tầng, trên gác có mái, trên mái có lầu, lầu cái cao là 7,8 trượng; cái thấp là 5,6 trượng... Thành mở 13 cửa, các điện đều hướng về phía nam...nhà có hơn 2100 gian, chợ búa dân cư ở xung quanh. Núi đá cao rất hiểm trở, cho nên binh khí, chiến cụ của nước Lâm Ấp đều để tất cả tại thành Khu Túc. Có nhiều thành luỹ, bắt đầu từ vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt". Thành Khu Túc nằm giữa 2 con sông: Sông Lô Dung gom nước ở núi Ẩn Sơn đi vòng quanh phía tây, bao phía bắc, rồi chảy về phía đông đi qua phía bắc thành Khu Túc, lại chảy về phía đông, hợp với sông Thọ Linh ở phía bên phải". Như vậy có thể thấy vị trí của Thành Khu Túc ở vùng Hạ Trạch là hợp lý, sau hàng nghìn năm các tường thành có thể đã biến thành những con đường, như đường Quan, đường Bạn chẳng hạn, ngày nay chỉ còn lại tòa thành là nơi ở của thủ lĩnh mà thôi(Thành Cao Lao Hạ là thành nội). Như vậy thì chúng ta chưa nên vội kết luận là thành Khu Túc ở Cao Lao Hạ là nhầm lẫn được. Tôi đồng ý với Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:Dựa theo ghi chú của sách Thủy Kinh chú do Lịch Đạo Nguyên viết vào thế kỷ 5, các nhà khảo cổ người Pháp như R.A.Stein, nhà sử học Đào Duy Anh, nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh đã xác định được vị trí của thành Khu Túc nằm ở khu vực ngày nay tại làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Phía bắc là sông Gianh, phía tây là sông Con, phía đông là đồng bằng. Đôi lời tâm sự nhỏ, có gì không phải mong được thông cảm.
1, 2, 3, 4  Trang sau
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image