15:57 ICT Thứ bảy, 01/11/2014
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non

Trí tuệ và cảm xúc Cao Lao»Viết về Cao Lao

Nét đẹp văn hoá tâm linh đặc biệt của làng Cao Lao Hạ

Thứ ba - 21/02/2012 09:06
Đầu năm Nhầm Thìn nói về văn hoá tâm linh và lễ cúng Cô Hồn ở Cồn Cui mà liên tưởng đến lễ tế Nam Giao của các triều đại vua chúa Việt Nam- nét đẹp văn hoá tâm linh đặc biệt của làng Cao Lao Hạ

 

Văn hóa tâm linh là thuật ngữ được hiện diện trên văn đàn vào khoảng mười lăm năm gần đây, nhất là sau khi một số nhà nhân học, tâm lí học, khoa học xã hội quốc tế thừa nhận yếu tố tâm linh, một trong bốn thuộc tính của con người (con người xã hội, con người sinh học, con người tâm lí, con người tâm linh). Tâm linh có hai nghĩa: khả năng đoán biết một biến cố sẽ xẩy ra; tinh - khí - thần của người. Từ đó trở đi, một câu hỏi tưởng chừng như ẩn số: “Con người là một bí ẩn” mà nhiều nhà tư tưởng lớn đặt ra ở thế kỷ XIX, được triết học văn hóa giải mã khi nghiên cứu con người: cái tự nhiên và cái phi tự nhiên, lý trí và tình cảm, trí tuệ và bản năng, lý tưởng và tính dục, cái thiêng và cái tục, nhân vị và siêu nhân v.v… Như vậy, khi ghép tâm linh vào văn hóa, thì khái niệm văn hóa tâm linh là hình thái văn hóa của một tộc người gồm: tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian (folklore) và một phần của sáng tạo khoa học, nghệ thuật như sự thăng hoa, phút xuất thần, “tia chớp” cảm hứng sáng tạo, trí tuệ phát sáng của nhà khoa học và nghệ sĩ (1).

 

Khi chúng ta nói về văn hoá tâm linh làng Cao Lao Hạ, vùng đất địa linh nhân kiệt, hào khí núi sông, cơ trời vận nước, miền đất rồng cuộn hổ ngồi, hồn thiêng núi rộng sông dài, khí phách cha ông thuở trước vv… chính là Tinh, Khí, Thần của một làng văn hoá linh thiêng, với những con người linh thiêng của một làng như Thành Hoàng làng, các vị thần, các vị Sư Tổ , các ông Tổ của các dòng họ, những anh hùng chính sử như Lê Mô Khởi, Lê Văn Tri, những danh nhân văn hoá như Lưu Trọng Lư v v… đều là đối tượng sùng kính, ngưỡng mộ tôn vinh và noi gương. Có thể coi tâm linh là một khái niệm tâm lý nói lên sự gắn kết ba phạm trù thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai. Việc hướng về cội nguồn, biết ơn người đã khuất, tri ân công trạng của các bậc tiên hiền, tôn vinh những danh nhân có công với nước, với dân là một phong tục đẹp ở nước ta nói chung và làng ta Cao Lao Hạ nói riêng.

 

Người Cao Lao Hạ có những phong tục thờ cúng vô cùng phong phú, đa dạng trong đời sống, phổ biến nhất là phong tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân trong mỗi gia đình. Ở phạm vi cộng đồng ngoài việc làng tổ chức xây đình, đền, chùa, miếu mạo, nhà thờ…và thực hành các nghi lễ cầu cúng  thành hoàng làng, các vị thần, các vị  Sư Tổ, các vị anh hùng đã có công với nước với làng, các danh nhân văn hóa thì không biết từ bao giờ làng Cao Lao Hạ lại có cả lễ cúng ở Cồn Cui (Cồn Cui là vùng đất  to cao chính giữa cánh đồng phía nam, trước làng), dân làng thời nay gọi đây là lễ cúng Cô Hồn tức là  cúngnhững người đã khuất vô mồ, vô chủvàongày 15 tháng 3 Âm lịch hàng năm, tức ngày lễ Thanh Minh- một nét đẹp văn hoá tâm linh sâu xa, giàu tính nhân văn không nơi nào có. Tuy nhiên việc thờ cúng ở Cồn Cui cho tới bây giờ chưa có một tài liệu nào ghi lại chính xác nguồn gốc, xuất xứ, thời gian bắt đầu lập lễ. Qua nhiều thời kỳ và đặc biệt là 2 cuộc chiến tranh ác liệt bị gián đoạn, sợ rằng con cháu thời nay thất lễ bỏ quên truyền thống quý báu của ông cha, năm 2002 chính quyền cùng các dòng họ và dân làng Cao Lao Hạ góp công góp sức xây dựng lại Đàn (2)và khôi phục lại lễ cúng. Nhân đầu năm Nhầm Thìn, xin được mạo muội các Cụ Tổ Làng cho con cháu được suy tôn, sùng bái, phát đoán thêm “một tầm cao mới” theo cách nói của các vị lãnh đạo thời nay để tôn vinh nét đẹp văn hoá tâm linh đặc biệt của làng Cao Lao Hạ, khi giá trị nhân văn có thể đã vượt xa hơn cả lễ cúng Cô hồn.

 

Trước hết nói về vị trí. Cồn Cui là một khuôn viên rộng, được bố trí và xây đắp chính giữa đồng trước mặt làng, là nơi quang rạng bốn phương tỏ về tứ hướng, kích thước  Đàn mỗi chiều 30x40 m, có tường bao quanh. Đi vào cửa, qua bức bình phong là nơi thờ cúng được xây bằng đá, không có mái che (3)làm cho ta liên tưởng tới Đàn Nam Giao của các triều đại Vua chúa Việt Nam cũng như Thiên Đàn ở Bắc Kinh - Trung quốc và Đàn Nam Giao của một số nước Đông Phương.

 

C:\Users\Nguyen Van Loi\Pictures\concui.jpg

Lễ cúng Cô Hồn ở Cồn Cui, làng Cao Lao Hạ (Xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình)

 

Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, Đàn Nam Giao là một trong số những đàn tế quan trọng nhất được xây dựng trên những khuôn viên rộng, quang đảng về phía Nam kinh thành. Phần lớn các Đàn Nam Giao được xây đắp thành hai tầng, tầng trên có hình tròn tượng trưng cho trời, tầng dưới có hình vuông tượng trưng cho đất. Chức năng chính của Đàn Nam Giao là nơi tế trời- đất, cầu cho mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an, vương triều trường tồn, thịnh trị. Ngoài chức năng chính trên, đàn còn là nơi tế linh vị của các Hoàng Đế đương triều, các vì sao và nhiều vị thần khác. Tế Nam Giao còn là lễ tạ ơn trời đất về sự hiện diện của vương triều. Chính vì vậy mà Lễ Tế Nam Giao là nghi lễ quan trọng bậc nhất dưới chế độ quân chủ vì chỉ nhà vua mới có quyền làm lễ tế Giao Trời-Đất, nhằm khẳng định tính chính thống của triều đại, uy quyền của Hoàng Đế tuân theo mệnh trời mà cai trị dân chúng. Do vậy, hầu như các triều đại phong kiến Việt Nam đều tổ chức lễ Tế Giao và cho xây dựng Đàn Nam Giao(4).

 

Giống nhiều nước phương Đông như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc …do ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Nho giáo phương Bắc nên việc Tế Giao tại Việt Nam cũng đã có từ khá sớm. Sử cũ cho biết, từ thời Lý Anh Tông (1138-1175), Vua đã cho đắp đàn Viên Khâu ở phía Nam thành Thăng Long và cứ 3 năm lại tổ chức tế giao một lần.Theo Ðại Việt sử ký toàn thư, năm 1154 đắp đàn Viên Khâu ở phía nam thành Ðại La, trước đó năm 1137 và năm 1138 đã chép về Vu đàn. Ðại Nam nhất thống chí chép rõ hơn: "Ðàn Nam Giao nhà Lý ở địa phận huyện Thọ Xương, phía nam tỉnh thành, do nhà Lý xây đắp để làm chỗ tế trời. Từ đó trở về sau, dường như triều đại nào cũngcó tổ chức việc tế giao và đắp đàn tế (riêng triều Trần không thấy sử sách nói tới tế giao). Tuy nhiên, mãi đến đầu thời Nguyễn việc tế Đàn mới được xây dựng một cách công phu. Đàn tế Trời Đất của các chúa NguyễnTế giao tức là tổ chức nghi lễ cúng để con người có thể giao tiếp được với trời, đất và các bậc thần linh. Năm 1635, chúa Thượng Nguyễn Phúc Lanlên nối ngôi chúa, dời thủ phủ vào Kim Long, lập đàn tế tạ ơn Trời Đất đầu tiên của đế vương dòng họ Nguyễn. Bảng Trung hầu Nguyễn Khoa Chiêmchép rằng "Thượng vương lên nối ngôi, xuống lệnh đại xá thiên hạ, dựng đàn tạ ơn trời đất, yết cáo tiên vương ở nhà Thái miếu". Lên ngôi năm 1648, Hiền Vương Nguyễn Phúc Tầnvẫn chọn Kim Long làm thủ phủ của mình. Và vào năm 1673, sau khi chống chọi thành công cuộc tiến đánh của quân Trịnh vào năm 1672, chúa khải hoàn về phủ chính Kim Long, tế cáo Trời Đất Tôn miếu, gia phong cho các vị linh thần. Cũng trong khoảng thập kỉ 70 của thế kỉ XVII, một giáo sĩ người Pháp là Bénigne Vachet đã có dịp tới Đàng Trong và miêu tả một buổi lễ tế Trời của Chúa Nguyễn vào ngày đầu năm. Theo B. Vachet, sáng sớm tinh mơ mùng Một Tết năm nọ, các ông hoàng, đức ông, quan võ, quan tư pháp cùng binh lính tới vương phủ phò chúa Nguyễn ra ngoài ruộng đồng. Toàn đoàn giữ im lặng cho đến khi mặt trời mọc. Chúa mặc đồ đen, đầu trần, rời khỏi ngai, bước ra vạt đất trống, quỳ xuống lạy trời chín lạy. Rồi Chúa lên ngai. Tiếpđến là Đàn Nam Giao triều Nguyễn (tiếng Anhlà : The altar of Nam-Giao, tiếng Trung là: 阮朝南郊壇) được xây dựng ở xã Dương Xuân, về phía nam của kinh thành Huế, trong khuôn viên đàn là các công trình kiến trúc được nhà Nguyễn cho xây dựng để phục vụ đại lễ Nam Giao với trung tâm là đàn Nam Giao.Đàn Nam Giao đã được nhà Nguyễnkhởi công xây dựng vào ngày 25 tháng 3năm 1806. Sau khi hoàn thành, vua Gia Longlần đầu tiên tổ chức lễ tế Giao tại đây vào ngày 27 tháng 3năm 1807. Trong suốt 79 năm (1807- 1885) độc lập của nhà Nguyễn, đàn Nam Giao luôn là nơi tổ chức nghi thức tế Giao đều đặn vào mùa xuân hàng năm. Lễ tế cuối cùng của triều Nguyễn tại đây là vào ngày 23 tháng 3năm 1945(5).

 

http://www.huedisan.com.vn/Upload/DTHue/namgiao1.jpg

Toàn cảnh Đàn Nam Giao tại Huế

Những đàn tế ở Bắc Kinh và đàn Nam Giao Huế

Đàn Nam Giao triều Nguyễn tại Huế

Gần đây người ta phát hiện thêm  Ðàn Nam Giao thành Hoàng Ðế tại Bình Định. Theo kết quả khảo sát khảo cổ học tại Gò Chùa  đã phát hiện di tích đàn Nam Giao của thành Hoàng Ðế thời Tây Sơn qua kết quả khai quật năm 2007. Ðỉnh đồi tương đối bằng phẳng đã được tu sửa thành hình gần tròn, đường kính khoảng 35-37m. Trên đỉnh đồi, dưới lớp đất màu đỏ, đã tìm thấy di tích nền lát bằng gạch hình vuông và đá ong. Quanh đỉnh hình tròn còn dấu tích kẻ gạch và đá ong thu dần lên đỉnh, đầm nện bằng đất đồi màu đỏ lẫn sỏi khá kiên cố. Tại mặt đông của sườn đàn đã phát hiện dấu tích bậc lên xuống xây bằng gạch. Dưới đỉnh đàn hình tròn là một cấp nền hình gần vuông. Như vậy, có thể nhận xét đàn Nam Giao của thành Hoàng Ðế xây dựng theo mô hình qui chuẩn là trên tròn, dưới vuông, tượng trưng cho Trời- Tròn và Ðất-Vuông gần như mô hình đàn Nam Giáo Huế thời Nguyễn. Nhưng đàn Nam Giao thời Tây Sơn dựa trên cơ sở tận dụng một gò đất cao nằm về phía tây nam trong kinh thành. Phát hiện này hoàn toàn phù hợp với miêu tả của Nguyễn Văn Hiển trong Ðồ Bàn thành chí. Trong năm 2007, diện tích khai quật mới 137 m2. Công việc khai quật và nghiên cứu về đàn.Nam Giao này sẽ còn tiếp tục để xác định rõ hơn bình diện kiến trúc và đề xuất giải pháp bảo tồn lâu dài.

 

Mới đây nhất người ta lại khai quật Ðàn Nam Giao của kinh thành Tây Ðô. Tư liệu lịch sử cho biết, năm 1397 Hồ Quý Ly cho xây dựng một tòa thành lớn ở động An Tôn, phủ Thanh Hóa để chuẩn bị dời đô vào đó. Ðó là thành Tây Ðô mà nhân dân quen gọi là thành Nhà Hồ, nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa.  Chính tại đây, nhà Hồ cho xây dựng đàn Nam Giao. Ðại Việt sử ký toàn thư chép: "[Năm Nhâm Ngọ-1402], tháng 8, Hồ Hán Thương đắp đàn Nam Giao ở Ðốn Sơn để làm lễ tế Giao" . Ðại Việt sử ký tiền biên miêu tả lễ tế Giao đó như sau: "Hán Thương ngồi kiểu chạm mây rồng, đi từ cửa Nam ra, các cung tần, bách quan mệnh phụ, thứ tự theo hầu. Thời Trần chưa từng làm lễ tế Giao, Hán Thương bắt đầu làm". Theo điển chế của Trung Hoa, ngày đông chí đắp đàn hình tròn gọi là Viên Khâu ở phía nam kinh thành để tế Trời, ngày hạ chí đắp đàn hình vuông gọi là Phương Trạch ở phía bắc để tế Ðất, sau hợp tế cả Trời Ðất ở đàn Nam Giao vào đầu xuân. Ðại Nam nhất thống chí chép: "Ðàn Nam Giao cũ của nhà Hồ ở phía nam trên núi Ðốn Sơn, thuộc xã Cao Mật, huyện Vĩnh lộc, do Hồ Quý Ly xây, dưới đàn có giếng tắm. Năm 2005, Viện khảo cổ học phối hợp với Sở văn hóa thông tin tỉnh Thanh Hóa khai quật thăm dò lần thứ nhất và năm 2007 khai quật trên diện tích 2.000 m2. Kết quả khai quật đã làm phát lộ một phần kiến trúc đàn Nam Giao (6).

 

NG2

Đàn Nam Giao Tây Đô,Thanh Hoá đang được khai quật.

Image

Khai quật thành Hoàng Đế, kinh đô đầu tiên của nhà Tây Sơn, xây dựng năm 1775

Ở Trung Quốc, từ thời nhà Chu (trước Công nguyên thế kỷ XI- 256), việc cúng tế trời, đất và các vị thần thánh đã trở thành điển lễ. Bắt đầu từ thời Đông Hán (sau Công nguyên 25-220) trở đi, khi Nho giáo đã thắng thế, Dịch học đã phổ biến trong toàn xã hội thì cũng thành lệ, đàn tế trời luôn luôn được đặt ở phía Nam kinh đô và được gọi là Thiên Đàn. Bên cạnh Thiên Đàn, người ta còn đáp các loại đàn tế khác để tế Thần Đất, Thần Mặt Trời, Mặt Trăng. Ở Bắc Kinh đến nay vẫn còn giữ được Thiên Đàn xây dựng từ thời Minh là di tích tế giao rất nổi tiếng (7)

 

E:\ANH\ẢNH BẮC KINH- 4-2008\BAC KINH-HARBIN 2008\HPIM3104.JPG

Đứng trên Thiên Đàn ở Bắc Kinh- Trung Quốc

Đứng Trên Thiên Đàn nhìn xuống đường lên

 

Làng Cao Lao Hạ, dưới vùng đất địa linh nhân kiệt, hào khí núi sông, cơ trời vận nước, miền đất rồng cuộn hổ ngồi, hồn thiêng núi sông, khí phách cha ông thuở trước,nơi địa đầu Trịnh - Nguyễn phân ranh, liệu nhà Nguyễn có lập Đàn Nam Giao mà tế trời đất khẳng định với bên kia sông Gianh- Đàng Ngoài rằng trời đất từ đây bờ Nam là của Đằng Trong, là của Chúa Nguyễn ? Qua nhiều thời kỳ thăng trầm lịch sử và những gì mà đời xưa còn để lại chính tại nơi đây ngoài Cồn Cui thì còn Phố, còn Thành, còn quy hoạch dân cư kiểu đô thị, đặc biệt là những di sản văn hoá vật thể khác nữa như Đền, Miếu và hệ thống nhà thờ Họ vv và vv  chúng ta liên tưởng tới lễ cúng mà dân làng thời nay đang gọi là cúng Cô Hồn với lễ Giao của các triều vua chúa Việt Nam tế Trời Đất, nhằm khẳng định tính chính thống của triều đại, uy quyền của Hoàng đế tuân theo mệnh trời mà cai trị dân chúng. Cho đến nay người ta cũng chưa thấy một tài liệu nào nói đến phong tục cúng Cô Hồn tập thể tại Việt Nam mà chỉ biết thông thường người xưa thờ cúng các vị thần linh, thần thánh, các vị anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hoá tại các đền, miếu;  thờ cúng Thần Hoàng Làng tại đình; các người đã khuất có mộ hay không có mộ cũng được thờ cúng tại chùa; đối với tổ tiên được thờ cúng tại nhà thờ họ; với ông bà, người thân được thờ cúng tại bàn thờ gia đình; các anh hùng liệt sĩ có lễ thờ cúng và cầu siêu tại các chùa và nghĩa trang. Liệu chúng ta có quyền tự hào và suy tưởng rằng chính nơi đây tại làng Cao Lao Hạ ngoài lễ cúng Cô Hồn thì còn có lễ Giao tế trời đất tại Cồn Cui là Đàn Nam Giao ? Và nếu cơ may đến, biết khai thác thì không chừng “Đàn” này có thể trở thành một địa điểm khám phá rất đặc biệt cùng với Thành - Kinh đô cũ của Chiêm Thành (Thiềng), khu Phố xưa trên bến dưới thuyền (Đồng Phố)  của làng…sẽ là chuỗi di tích văn hoá kết hợp tour du lịch Đá Nhảy-Phong Nha Kẻ Bàng- Nhật Lệ…trong tương lai.

 

Tài liệu tham khảo:

(1) Hồ Sĩ Vịnh,Tạp chí Tuyên Giáo-Văn hóa tâm linh - Lý luận và thực tiễn (26/5/2011);

(2)“Đàn” là khu vực được xây đắp cao, dưới  hình vuông, trên hình tròn, là nơi để Vua Chúa hoặc người chủ trời đất làm nơi  tế lễ trời đất và các vĩ thần; “Giao” là giao lưu, giao kết giữa con người với trời - đất; “Nam” là các đàn đều được xây dựng phía Nam khu vực đống đô của Vua Chúa Vương Triều);

(3) Lưu Đức Hải,Phong tục thờ cúng cộng đồng ở Cao Lao Hạ (1/1/2011) caolaoha.com; Cảnh Giang, Lễ thanh minh ở Nghĩa Trũng Cồn Cui (02/11/2010) caolaoha.com;

(4) Phan Thanh Hải (2010), Những đàn tế ở Bắc Kinh và đàn Nam Giao Huế, Diễn đàn Sông Hương;

(5) Ðại Nam nhất thống chí, bản dịch, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1970, T. 3, tr.184 ;Thăng trầm đàn Nam Giao triều Nguyễn,Thế Giới Mới số 704 (25-9-2006) và 705 (2-10-2006); Phanxipăng (2006), Thăng trầm đàn Nam Giao triều Nguyễn, Tạp chí Thế Giới Mới;

(6)Longhttp://baotangnhanhoc.org/vi/index.php?option=com_content&view=article&id=364:ec-mua-an-nam-giao&catid=29:bai-nghien-cu-lch-s&Itemid=37;

(7) Phan Thanh Hải (2010), Những đàn tế ở Bắc Kinh và đàn Nam Giao Huế, Diễn đàn Sông Hương.

Tác giả bài viết: Nguyễn Danh Lợi

Từ khóa: Nguyễn Danh Lợi
Người Cao Lao- - 05/02/2012 22:43
Trên cả tuyệt vời! cảm ơn caolaoha.com
MinhHùng- - 06/02/2012 08:35
Rất rất tuyệt vời, không thể tin nổi làng cao lao hạ mình lại có lễ cồn cui giống lễ cúng Nam Giao. Từ lâu rồi không có ai nghiên cứu vì sao lại có Cồn Cui cùng ý nghĩa đích thực của nó. Xã và các ngành của Huyện và tỉnh Quảng Bình nên nghiên cứu biết đâu lại là sự thật đàn nam giao của triều đại nào đó tại Hạ Trạch thì vinh dự cho làng ta đó. Bài viết trên cả tuyệt vơì. Cảm ơn sự phát hiện của tác giả và caolaoha.com
Lê Hồng Vệ- - 06/02/2012 11:34
Nghĩa Trũng Cồn Cui một lần nữa lại được khơi dậy trong tiết mùa xuân gọi mênh mang đất trời. Nét đẹp văn hóa ấy, như một chiếc cầu nối thiêng liêng giữa cuộc sống hiện hữu của con người, của quê hương Cao Lao với cõi tâm linh của trời đất. Nó đã đi sâu vào ý niệm, đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Cao Lao như một nét đẹp truyền thống ngàn đời nay. Trong tâm thức của mỗi người nơi ấy, mỗi chúng ta đều tin rằng: Ở thế giới bên kia, trong một không gian vô định, có những hình ảnh, những con người vô hình đang hướng về chúng ta, đang ở bên chúng ta hàng ngày. Những nén hương thơm vòng cháy của những con người quê chân chất thành dâng như chính vòng xoáy nhân sinh của cuộc đời, đó là vòng đời của mỗi con người nơi trần thế. Sưởi ấm cả thế giới này và cả thế giới vô hình kia nữa. gần gũi và thiêng liêng. Và tất cả chúng ta, cuối cùng cũng đi đến một mục đích, vươn tới giá trị đích thực của cõi tâm linh, vươn tới những điều: Chân – Thiện – Mỹ .Triết lý nhân sinh thật đơn giản nhưng lại mang một nội hàm đa dạng. Văn hóa là ở đây. Cám ơn Danh Lợi, người con đa tài của quê hương Cao Lao. .
thai- - 06/02/2012 12:38
Anh Danh Lợi thật tâm huyết nghiên cứu, sưu tầm giới thiệu chiều sâu văn hóa của làng . Rất nhiều bài viết tôi thật tâm đắc, ngưỡng mộ.Với bài này tôi xin cung cấp thêm một số tư liệu để bà con tham khảo. Đàn NAM GIAO là ĐÀN lập ra để VUA CHÚA phong kiến tế trời. Lễ tế đàn NAM GIAO là nghi lễ quan trọng bậc nhất dưới chế độ quân chủ vì chỉ nhà VUA mới có quyền làm lễ tế GIAO, tức là tế TRỜI ĐẤT, nhằm khẳng định tính chính thống của TRIỀU ĐẠI, uy quyền của HOÀNG ĐẾ tuân theo MỆNH TRỜI mà cai trị dân chúng. Do vậy các triều đại phong kiến VIỆT NAM đều tổ chức lễ tế GIAO và cho xây dựng ĐÀN NAM GIAO.Qua khai quật, hiện nay đã phát hiện được các đàn NAM GIAO sau: Đàn nam giao Triều NGUYỄN tại cố đô HUẾ; đàn nam giao Tại kinh thành THĂNG LONG; Đàn nam giao nhà TÂY SƠN; đền nam giao nhà HỒ( Thanh hóa). như vậy , hầu như các đàn nam giao tìm thấy đều gắn với các CỐ ĐÔ; KINH THÀNH xưa...Trở lại lễ cúng ở CỒN CUI như hiện nay thì ta biết rồi, nhưng để nghiên cứu tiếp xem có liên quan đến LỄ TẾ ĐÀN NAM GIAO không thì theo tôi phải tập trung nghiên cứu lịch sử THÀNH LỒI và phong tục TẾ LỄ thời đó xem...Tôi thiển nghĩ thời NHÀ NGUYỄN không thể lập đàn NAM GIAO ở làng mình được.vấn đề này nhờ các nhà khoa học khắp nơi nghiên cứu.
Hà Nội- - 06/02/2012 14:11
Anh Thái có ý so sánh tốt. Nếu theo cứ liệu Chămpa đã cho thấy. Tôi e rằng đàn"NAMGIAO". Thì ở Cao Lao mình là nơi sớm nhất về tính phổ biến. Anh vào diễn đàn"KIẾN THỨC HỌC TẬP SUỐT ĐỜI".Thì có thể biết ngay tầm vóc quê mình Anh ạ.Hi vọng sẽ có có nghiên cứu tập trung về chủ đề này khi 15/3 âl đang đến gần. "Sử liệu chữ viết về vương quốc Chămpa có niên đại sớm nhất là tấm bia Võ Cạnh (Nha Trang) được xác định niên đại thế kỷ III. Nhưng những chứng tích phong phú và đa dạng, phản ánh khá toàn diện về vương quốc Chămpa thì thể hiện tập trung tại các khu di tích đền tháp Chămpa. Khu vực Quảng Bình – Quảng Trị – Thừa Thiên Huế: hiện biết khoảng 30 di tích văn hóa Chămpa, tập trung thành từng nhóm ở bờ nam sông Gianh tiêu biểu là thành Cao Lao Hạ, những minh văn trong hang động Phong Nha ở Quảng Bình. Nhóm ven sông Thạch Hãn của đồng bằng Quảng Trị có Cổ thành, tháp Hà Trung. Nhóm ở đồng bằng Thừa Thiên Huế: thành Lồi, tháp Liễu Cốc, tháp Vân Trạch Hòa, tháp Mỹ Khánh" Nguồn: http://diendankienthuc.net/diendan/van-hoa-viet/1885-vai-net-ve-van-hoa-champa.html#ixzz1laDpchfA
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image