Họ Lưu cuối nguồn sông Linh giang

09:58 - 17/08/2020

Cội nguồn và sự thăng hoa cùa dòng dõi họi Lưu phía nam cuối nguồn sông Linh Giang, Quảng Bình

Họ Lưu cuối nguồn sông Linh giang

Nghiên cứu Địa chí làng Cao Lao Hạ của tác giả Lê Văn Sơn, NXB Thuân Hóa 2006, thì họ Lưu ở Làng Cao Lao Hạ, nay là xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, có 3 họ: (1) Họ Lưu làng có chữ lót là Văn; (2) Lưu Quan có chữ lót là Đức, Trọng, Bá hay là Quý; (3) Họ Lưu Công cũng có chữ lót là Văn… Hình như có sự phân công từ thuở sơ khai giữa 3 họ Lưu, mỗi họ nối đời giữ một địa vị trong xã hội.

Trong gia phả của họ Lưu Quan chép: Vị thủy tổ là Ngài Lưu Văn Tiên chức Đại tương quân – hàm Chánh nhất phẩm. Tước: “Dực bảo trung hưng linh phù chi thần”.

Vợ ngài là: Phu nhân hàm chánh nhất phẩm.

Gia phả của họ Lưu Làng chép:

Vị thủy tổ là ngài Lưu Văn Tiên, chức Đại tướng quân, đến  2006 đã có 19 đời con cháu. Như vậy vị thủy tổ dòng họ Lưu Văn và họ Lưu Quan cùng tên là ngài Lưu Văn Tiên, có thể trước kia 3 dòng họ Lưu Quan, Lưu Làng, Lưu Công cùng chung một dòng họ lớn, nhưng về sau theo “chế độ cửu tộc” mà con cháu phân chia ra từng nánh để ngày nay trở thành ba họ. Hệ thống Cửu tộc đó là: Cao, cố, ông, cha, con, cháu, chắt, chiu… Từ bậc cao trở lên con cháu rước các vị tiên tổ lên thờ ở nhà thờ họ lớn. Cho nên con cháu ngày nay vẫn lưu giữ tên vị thủy tổ của dòng họ lớn mình.

Điều này đối chiếu với sơ lược về sự hình thành và phát triển của làng Cao Lao Hạ thời kỳ 1470-1858 của cuốn Lịch sử xã Hạ Trạch (1470-2015) NXB Thuận Hóa 2019, trang 39, 40 có ghi: “Qua nghiên cứu sử liệu với các tài liệu Ô Châu cận lục của Dương Văn An, Phủ biên tạp luc của Lê Quý Đôn và gia phả các dòng họ ở làng Cao Lao Hạ lưu truyền lại thì các dòng họ Lưu, họ Nguyễn, họ Lê là những dòng họ đầu tiên khai khẩn ra làng Cao Lao Hạ. Thủy tổ của các dòng họ đó là ngài Lưu Văn Tiên- Đại tướng quân, tước hiệu vua phong là Dục bảo Trung hưng Linh phù chi thần; ngài Nguyễn Văn Khai – Đại tướng quân Nguyễn Quý Công, ngài Lê Quang Lữ triệu phong Lê Quý Công. Đây là các vị tiền hiền khai canh của làng Cao Lao Hạ…”  … “ Tiếp sau có 4 vị của 4 dòng họ có công Hậu khai canh là:  Họ Lưu có ông Lưu Văn Hành, chức Tướng thần lai tư Quý Phúc Công; họ Lê Văn có ông Lê Văn Giám, tước hiệu Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần; họ Lê Quang có ông Lê Quang Diệu; họ Lê Chiêu có ông Lê Chiêu Phúc. Các vị thủy tổ của dòng họ Lưu, họ Nguyễn, họ Lê Quang là những vị tiền khai canh của làng và 4 vị có công hầu khai canh được thờ tự tại nhà thờ các dòng họ và được làng rước ra thờ tại Đình làng (theo văn tế Đình Trung)”…  “Cư dân Cao Lao Hạ lập làng sinh sống theo dãi đất chạy dài song song với dãy núi Lệ Đệ và dòng sông Linh Giang (sông Gianh) từ thành  Cao Lao về đến Hói Hạ… làng nằm ở địa thế trước núi sau sông, hình làng dáng tựa thuyền rồng.  Theo gia phả họ Lưu (ở Bồ Khê)  có ghi: Các vị tổ tiên của làng gặp nhau và dừng chân lập nghiệp tại làng Cao Lao Hạ…sau khi khai khẩn lập nghiệp ở làng Cao Lao Hạ, có người họ Lưu, rồi họ Nguyễn tiếp tục xuống khai phá vùng Bồ Khê (xã Thanh Trạch, Bố Trạch ngày nay). Họ Lưu đến khai khẩn vùng đồng bằng trải rộng từ Đồng Lào, Đồng Văn về đến đồng Con Ruộng…”

Ba ông đã dừng chân trên vùng đất phía Nam sông Gianh để lập làng khai canh. Vùng đất này có địa thế là trước mặt có dãy núi Lệ Đệ hùng vĩ, sau lưng có dòng sông Gianh hiền hòa chảy đến một vùng phá rộng lớn. Đó là một địa thế chiến lược vững chắc, các ông đã chọn để rèn luyện quân binh; trước mặt làng là một vùng đất: “Cửu khúc long khê” rộng lớn, trù phú, màu mỡ, thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp, sản xuất lương thực phục vụ cho dân tại chỗ và dự trữ quân lương.

Về sau nhiều đoàn dân binh khác trên đường vào Nam đã dừng lại trên mảnh đất ba ông đã chọn, xây dựng nên làng Cao Lao Hạ, gồm 24 họ tộc, nay là xã Hạ Trạch. Địa linh sinh nhân kiệt, từ đó đến bây giờ, làng Cao Lao Hạ phát triển không ngừng. Cùng với sự phát triển của làng xã, dòng họ Lưu Văn Tiên từ đó cũng không ngừng phát triển, đến nay đã trải qua 20 đời sinh sôi nảy nở.  

- Từ đời thứ nhất đến đời thứ sáu, nối dõi mỗi đời chỉ được một ông.

- Đến đời thứ sáu, Ông Tổ Lưu Văn Hành, chức Tướng thần lại tư, tước Quý phúc công, sinh hạ ra 5 quý tử. Từ đó dòng họ Lưu Văn Tiên phát triển thành 5 nhánh ngày càng nhiều con đông cháu.          

Theo gia phả Hán Nôm để lại, trong xã hội phong kiến, dòng họ Lưu Văn Tiên đã có nhiều người từng gánh vác trách nhiệm trong triều đình, ở phủ, ở huyện, ở tổng, ở làng xã. Ở đây, chúng tôi muốn nêu lên một số nhân vật tiêu biểu từ đời thứ bảy đến đời thứ mười bốn.

- Ngài Lưu Văn Tô: Cai hợp duy hàm bá

- Ngài Lưu Văn Chiên: Vũ công đô úy đội trưởng

- Ngài Lưu Văn Xướng: 2 bằng Cử nhân, đồng tác giả “Đại Nam nhất thống chí”

- Ngài Lưu Văn Thiệp: Hàn lâm viện Thị độc học sĩ

- Ngài Lưu Văn Bình: Phó bảng, Ngoại lang Bộ Hình, Hàn lâm viện Thị độc học sĩ

- Ngài Lưu Đức Xưng: Cử nhân, Thượng thư Bộ Lễ

- Ngài Lưu Trọng Kiến: Cử nhân, quan Tri huyện (Nhà thờ Kỳ Sơn)

- Ngài Lưu Đức Tuân: Cử nhân, quan Tri phủ

- Ngài Lưu Đức Vinh: Cử nhân, quan Huấn đạo (Tỉnh trưởng)

- Ngài Lưu Đức Hàn: Chánh tổng

- Ngài Lưu Bá Kỳ: Chánh tổng

- Ngài Lưu Điệt: 1 trong 4 nhân vật nổi tiếng trong phong trào Cần Vương

- Ngài Lưu Đức Nhu: Cửu phẩm,dạy học

- Ngài Lưu Đức Chước: Nhà giáo

- Ngài Lưu Quý Khản:Nhà giáo

Từ Cách mạng tháng 8 đến nay, từ đời thứ 14 đến đời thứ 18, con cháu họ tộc Lưu Quan hết sức hiếu học, chịu khổ, vượt khó, tu dưỡng đạo đức, chăm chỉ học hành để trở thành những người con ưu tú phục vụ cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng tổ quốc vững mạnh. Trong từng lĩnh vực, con cháu họ Lưu Quan đều đảm trách những công việc quan trọng và cống hiến nhiều công sức, trí tuệ cho đất nước, quê hương:

Trong lĩnh vực quân sự: Họ Lưu Quan đã từng đóng góp nhiều người con ưu tú vào quân đội. Theo thống kê chưa đầy đủ, khoảng từ 185-200 người con đã nhập ngũ, phục vụ trên các chiến trường khác nhau, ở đâu các quân nhân cũng đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng với truyền thống của dòng họ. Có người ngã xuống nơi chiến trường, nhiều người xuất ngũ với nhiều thương tích trên người, về quê hương vẫn tham gia những công việc xã hội giao cho và hoàn thành xuất sắc.

Nhiều người mẹ chỉ biết ngóng trông chồng con ra mặt trận và những người chồng, người con đó đã hy sinh,những người mẹ đó đã trở thành những người mẹ anh hùng của dân tộc Việt Nam,đó là:

- Bà Lưu Thị Én.

- Bà Lưu Thị Thuyết

- Bà Lưu Thị Con

- Bà Nguyễn Thị Tùy (Vợ liệt sĩ Lưu Văn Chu).

Đã có 11 liệt sĩ bỏ mình lại trên các chiến trường, 23 người con mang thương tật suốt đời trong mình.

Trong quân ngũ, nhiều người đã phấn đấu chăm chỉ học hành để trở thành những tướng tài, tá giỏi, tiêu biểu như:

- Ông Lưu Bá Xảo: Thiếu tướng, Giám đốc Học viện Lục Quân 1.

- Ông Lưu Quý Ngữ: Đại tá, Chính ủy Quân khu.

- Ông Lưu Trọng Lân: Nhà quân sự, Nhà văn.

- Ông Lưu Đức Thọ: Thượng tá, Chủ nhiệm Quân y Sư đoàn.

- Ông Lưu Đức Lợi: Thượng tá.

- Ông Lưu Anh Tuấn: Thượng tá, Bộ đội Biên phòng

   và nhiều sĩ quan cấp tá, cấp úy khác…

Trong lĩnh vực văn hóa:

Họ Lưu Quan đã từng đóng góp nhiều nghệ sĩ, văn sĩ ưu tú cho dân tộc, làng xã tiêu biểu như:

-  Ông Lưu Trọng Tuần: Nhà thơ.

-  Ông Lưu Trọng Lai (Nhà thơ Kỳ Linh): Nhà thơ.

- Ông Lưu Trọng Lư: Nhà thơ lớn, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Hồ Chí Minh, Danh nhân văn hóa dân tộc, Tổng thư ký hội Sân khấu Điện ảnh Việt Nam

- Ông Lưu Trọng Hồng: Tiến sỹ, Cục trưởng Cục Điện ảnh.

- Ông Lưu Trọng Ninh:  Đạo diễn, Nghệ sĩ ưu tú…

Trong lĩnh vực quản lý nhà nước :

Họ Lưu Quan đã từng đóng góp nhiều người con ưu tú, tiêu biểu như :

- Ông Lưu Trọng Lạc: Cục trưởng Bộ Lương thực.

- Ông Lưu Đức Khiêm: Cục trưởng Cục Đường sắt.

- Ông Lưu Đức Hồng: Tiến sĩ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển.

- Ông Lưu Hữu Túy: Chuyên viên cao cấp, Bí thư đảng ủy khối Nông nghiệp phía Nam.

- Ông Lưu Quý Dịch: Chuyên viên cao cấp ngành ngân hàng.

- Bà Lưu Thị Thanh Sơn: Phó vụ trưởng Vụ kế hoạch,Vụ Lương thực thực phẩm.

- Ông Lưu Văn Đăng: Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch tỉnh, Bí thư huyện ủy.

- Ông Lưu Minh Thành: Bí thư Đảng ủy, Giám đốc vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.

- Ông Lưu Đức Hải: Tiến sỹ, Trưởng Ban nghiên cứu…

Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo :

Con cháu dòng họ Lưu Quan đã đóng góp nhiều giáo viên xuất sắc từ tiểu học đến đại học, tiêu biểu như :

- Ông Lưu Trọng Thùy: Nhà giáo ưu tú, Hiệu trưởng trường Cao đẳng sư phạm.

- Ông Lưu Đức Trung:  GS.TS, giảng viên trường Đại học Hà Nội;

- Ông Lưu Bá Phùng:  Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Bình Trị Thiên.

- Ông Lưu Quý Thoái: Giảng viên trường Đại học Kinh tế Kế hoạch…

Trong ngành giao thông vận tải :

- Ông Lưu Minh Châu: Kỹ sư, Trưởng ban A sở STVT Bình Trị Thiên.

- Ông Lưu Đức Diệm: Kỹ sư đường sắt.

- Ông Lưu Trọng Hải: Kiến trúc sư trưởng.

- Ông Lưu Bá Hồng Anh: Thạc sỹ, Kỹ sư, Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Sở Xây dựng…

Trong lĩnh vực kinh tế:

Con cháu họ Lưu có rất nhiều người làm ăn phát đạt, trở thành những doanh nhân tiêu biểu:

- Ông Lưu Quý Hà (Sài Gòn).

- Ông Lưu Đức Ngọc (Đồng Hới)

- Ông Lưu Minh Tường (Đồng Hới)

- Ông Lưu Bá Ngọc (Hà Nội).

Ngay trên quê hương thân yêu này, cũng đã xuất hiện những người làm ăn giỏi để mọi người trong xã hội noi theo như :

- Ông Lưu Đức Sơn

- Ông Lưu Văn Tham

- Ông Lưu Quý Văn

   và rất nhiều những người con cháu khác.

Trong lĩnh vực y tế, vì sức khỏe của cộng đồng :

Họ Lưu Quan đã đóng góp rất nhiều y, bác sỹ tài giỏi, phục vụ ở khắp các bệnh viện khác nhau, từ chiến trường đến địa phương, một số bác sĩ tiêu biểu như :

- Ông Lưu Đức Thọ: Bác sĩ, Chủ nhiệm quân y sư đoàn.

- Bà Lưu Thị Tuyết Lê: Trưởng khoa.

- Ông Lưu Trọng Huỳnh: Giám đốc bệnh viện.

- Bà Lưu Thị Minh Hường: Trưởng khoa

   và nhiều bác sĩ, y sĩ khác…

 

Dòng họ Lưu Quan, Hạ Trạch đóng góp được nhiều người con ưu tú cho đất nước, quê hương là do dòng họ có truyền thống hiếu học, chịu khổ, vượt khó, tu dưỡng,  vươn lên trong học tập để thành danh. Không những trong nước nhà mà ở cả nước ngoài nhiều người con xa xứ của dòng họ vẫn phát huy được truyền thống hiếu học của họ tộc, có nhiều người được cấp bằng tiến sỹ, thạc sỹ, kỹ sư, bác sỹ tiêu biểu như:

- Ông Lưu Trọng Hà :        Tiến sỹ sinh học.

- Ông Lưu Trọng Hồ :        Tiến sỹ dược.

- Bà Lưu Trọng Xuân An : Tiến sỹ, Cố vấn Thủ tướng Canada

- Ông Lưu Đức Hiếu: Tiến sỹ Kinh tế

Đặc biệt, sau năm 1975 dân tộc được hoàn toàn giải phóng, đất nước trở về một mối, con cháu họ Lưu Quan càng phát huy truyền thống hiếu học của họ tộc, theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay họ tộc có hàng trăm con em tốt nghiệp từ đại học trở lên, trong đó có hàng chục tiến sỹ, thạc sỹ, nhiều gia đình đã phổ cập đại học, có những gia đình phần lớn cha mẹ, con cái đều là tiến sỹ, thạc sỹ tiêu biểu như gia đình ông Tiến sỹ Lưu Đức Hồng,  là tiến sỹ (con trai là Tiến sỹ Lưu Đức Hải, cháu nội là Tiến sỹ Lưu Đức Hiếu); gia đình ông Lưu Đức Quế, cha mẹ, con cái đều tốt nghiệp đại học, trong đó có 03 người con có bằng Thạc sỹ.

Với truyền thống hiếu học của dòng họ Lưu Văn Tiên qua nhiều triều đại, UBND tỉnh Quảng Bình đã công nhận họ Lưu Quan Hạ Trạch là một trong bốn dòng họ hiếu học xuất sắc của tỉnh Quảng Bình, với thành tích đó, hội Khuyến học Trung ương đã cấp bằng khen hiếu học cho dòng họ và đuợc tỉnh, huyện cấp nhiều giấy khen. Nếu như ngày xưa dân gian phong cho dòng họ Lưu Văn Tiên là dòng họ Lưu Quan thì hiện nay, trên các văn bản, bằng khen, giấy khen của chính quyền, của các đoàn thể chính thức được mang tên dòng họ Lưu Quan xã Hạ Trạch đã thành dòng họ Lưu Quan thực thụ do chính quyền và các cơ quan thừa nhận.                                                                                                                                                                                     Những người lược trích lịch sử họ tộc:

- Ông Lưu Quí Dịch (Đời 14)

- Ông Lưu Văn Trọng (Đời 14)

- Ông Lưu Thái Dư (Đời 15)

- Ông Lưu Bá Phùng (Đời 16)

                                    ***

Nhân ngày giỗ của Tổ bà đời thứ 6 , vào ngày 4/5 Quý Tỵ. Hội đồng Họ tộc họ Lưu Quan long trọng tổ chức Lễ Khánh thành lăng mộ Tổ Ông, Tổ Bà đời thứ 6.

Tổ Ông Lưu Văn Hành là một trong 4 vị có công khai khẩn làng Cao Lao Hạ, là vị tướng Triều đình thời Vua Hồng Đức (1470 - 1497) chức: Tưởng Thần Lại Tư - Quý Phúc Công, ngài sinh năm Giáp Ngọ, Húy kỵ ngày 19-7, mộ an táng tại Trại ngoài (Trầm Trăn). Tổ Bà là Nguyễn Thị Cư sinh năm Mậu Tuất, Húy kỵ 4 - 5, phần mộ được an táng tại Trại Trong (Phôốc Láng). Cả hai Tổ Ông, Tổ Bà được an táng tại núi rừng Ba Trại, cách quê nhà khoảng 4 - 5 cây số đường rừng. 

Mộ Tổ Ông, Tổ Bà được an táng trên một khu đất đẹp, tương truyền cho đến bây giờ các già làng kể lại: Để con cháu đời sau làm ăn phát đạt, phát lộc phát tài, dài dòng lớn họ nên đã nhờ thầy địa lý người Tàu thời đó, chọn đất an táng. Mộ Tổ Ông, Tổ Bà  an táng xa nhau chừng vài trăm mét, nhưng đều nằm trên một khu đất bằng phẳng, gối đầu lên dãy núi Hình Lá cờ.  Bên phải, bên trái mộ  Tổ Ông , Tổ Bà đều kẹp giữa 2 khe suối chảy quanh, sau hợp lại thành một dòng suối lớn chảy ra hồ Vực Sanh. Nhờ vậy mà 5 quý tử của Tổ Ông, Tổ Bà trở thành 5  nhánh Họ ngày nay, con cháu phát lộc, phát Tài.

Hơn 400 năm trôi qua, mặc dù đã được tôn tạo nhiều lần, lần này theo quyết định của Hội Đồng Họ tộc đầu năm 2013, ngày 12 tháng 3 năm Quý Tỵ, được sự nhất trí cao, đồng lòng đồng sức của con cháu họ Lưu Quan trong Nam ngoài Bắc và trên quê nhà đã nâng cấp Lăng mộ Tổ Ông, Tổ Bà, và tôn lăng mộ ngài Thủy tổ Họ Lưu  Đại Tướng Quân Lưu Văn Tiên, Tại chân hòn Cù Sơn Vực Sanh, cùng 3 ngôi mộ con cháu của ngài tại cánh đồng trước nhà thờ Họ Lưu.

Nhân dịp ngày giỗ của Tổ Bà, đông đảo con cháu Họ Lưu Quan khắp mọi nơi Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Quảng Trị, Đồng Hới vv... đã về dự lễ khánh thành phần lăng mộ Tổ.

                                                   ***

Họ Tộc Lưu Quan biểu dương những tấm gương con cháu, mong con cháu luôn hướng về tổ tiên ông bà, hướng về cội nguồn để xây dựng dòng họ ngày càng lớn mạnh như nội dung 2 câu đối trước Lăng Tổ Ông Tổ Bà:

                         " KỲ SƠN BÍCH NGỌC THẢO MỘC TỎA ĐỊA LINH

                   LƯỠNG THỦY NHỊ DÒNG THANH LONG SINH NHÂN KIỆT "

                                                   ***

Họ đại tộc Lưu Văn (Lưu Làng), một trong 24 nhà thờ họ ở làng Cao Lao Hạ, Hạ Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình bị tàn phá mang đầy thương tích sau hai cuộc chiến tranh tàn khốc của Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Sau ngày thống nhất đất nước, con cháu dòng Họ Đại tộc Lưu Văn đã góp sức người sức của tôn tạo, xây dựng lại nơi thờ cúng ngài Thủy tổ Lưu Văn và các ngài hậu hiền khai canh qua 20 đời, tạo dựng cho con cháu hôm nay dài dòng lớn họ.

Qua nhiều lần tu sửa, như ngày 02/02/Nhâm Thìn (tức 23/02/2012), con cháu dòng họ đại tộc Lưu Văn trong và ngoài làng đã đồng sức, đồng lòng tự nguyện đóng góp và khởi công tôn tạo xây dựng Nhà thờ họ. Sau 7 tháng thi công, nhà thờ Họ Đại tộc Lưu Văn đã hoàn thành khang trang, vừa hiện đại, vừa cổ kính và được long trọng tổ chức khánh thành vào ngày 15/8/Nhâm Thìn (30/9/2012)

Rằm tháng 3 năm Giáp Ngọ (2014), Hội đồng Họ Tộc Lưu Văn, do Ông Lưu Văn Học làm Trưởng tộc, đã kêu gọi con cháu đinh tráng trong dòng họ khắp nơi trong cả nước cung tiến, ủng hộ nâng cấp lần 2 trong gần 2 năm (2012 -2014).

Ngày 9 tháng 7 Âm lịch hằng năm là ngày húy nhật của Ngài Đại Tướng quân Lưu Quý Công, Ngài được phong là Dực bảo Trung Hưng Linh phủ Chi thần, là một trong ba vị Tiền hiền khai khẩn Làng Cao Lao Hạ, và là Thủy tổ của hai dòng Họ Lưu lớn ở làng Cao Lao Hạ, đó là đại tộc Lưu Văn và đại tộc Lưu Quan, đến nay đã trải qua 20 đời kế tiếp. Nhân dịp ngày giỗ Vị Thủy Tổ năm nay 9/7/Giáp Ngọ (04/8/2014), con cháu dòng họ đã tổ chức báo công và tri ân với Ngài Thủy Tổ và khánh thành lần thứ 2 nâng cấp “To đẹp hơn” Nhà thờ họ tại làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Hiện nay, riêng dòng họ đại tộc Lưu Văn ở Cao Lao Hạ đã có trên 300 đinh, hàng trăm tráng, cùng hàng nghìn con, cháu, chắt, chút, chít nội ngoại sinh sống khắp mọi miền Tổ quốc, đã cung tiến ủng hộ cả hai lần tôn tạo nâng cấp Nhà thờ họ đại Tộc Lưu Văn, tổng trị giá hơn 1,1 tỷ đồng.

                                               *

                                            *       *

 

 

 

 

Trong Dự thảo – 5:  TỰ HÀO LƯU TỘC VIỆT NAM

Dòng tộc Họ Lưu       PHÍA NAM CUỐI NGUỒN SÔNG LINH GIANG – QUẢNG BÌNH có 12 ngài Cao tổ tiêu biểu, được vua chúa ca ngợi, nhân dân biết ơn, con cháu hậu thế  TỰ HÀO, TRI ÂN và BÁO HIẾU TỔ TIÊN:

1;Số TT 38:  Lưu Văn Tiên Thuỷ Tổ họ Lưu Văn (Lưu Quan) ở Cao Lao Hạ, Hạ Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình,       Đại tướng quân, Chánh nhất phẩm, Dực bảo trung hưng. Dòng tộc còn gọi là Lưu Quan vì có nhiều người làm quan các triều đại      Nhà Lê sơ

2; Số TT 95:  Lưu Văn Tô  Cao Lao Hạ, Hạ Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình,

Các cụ đều là hậu duệ của Cụ Thuỷ Tổ họ Lưu Văn (Lưu Quan) - Đại tướng Lưu Văn Tiên (STT "38")   Cai Hợp, Duy Hàm bá Nhà Lê Sơ

3; STT 96:  Lưu Văn Chiên             Đội trưởng Vũ công Đô Uý   

4; STT 97:  Lưu Văn Thiệp             Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ

5; STT 98:  Lưu Đức Hành, Tướng Thần Lại Tư; Quý Phúc công; đời VI của cụ Lưu Văn Tiên   

6; STT 99:  Lưu Văn Bình, Phó Bảng, Viện ngoại lang Bộ Hình, Phúc Quý Công, Hậu duệ đời VI của Cụ Lưu Văn Tiên  

7; STT 100: Lưu Văn Xướng   Hai bằng Cử nhân, quan viết sử trong triều   

8; STT101: Lưu Văn Thiệp    Hàn lâm viện Thị độc Học sĩ Lê Trung Hưng

9,STT; 102: Lưu Quang Chánh Cử nhân võ, Đề Đốc, Phó tướng của Thủ lĩnh Cần Vương Lê Nhà Nguyễn

10; STT103: Lưu Văn Điệt Tướng quân Cần Vương, anh của Lưu Đức Xưng      

11; STT 104: Lưu Đức Xưng. Phó bảng, Thượng thư; tác gỉả "Đại Nam nhất thống chí", con của Phó Bảng Lưu Văn Bình, Trang Lượng hầu, đã từ quan theo Cần Vương      

12; STT 125:       Lưu Đình Thiệu  Xã Ninh Hạc, Yên Định, Thanh Hoá        Hàn lâm Viện kiểm tịch, Quan kinh thành Huế thời vua Vĩnh Thuỵ (Bảo Đại)  - Nhà Nguyễn.

 CẢNH GIANG

Sưu tầm và giới thiệu

Tác giả : Cảnh Giang

Bình luận

Bài viết liên quan

Tôn tạo lăng mộ ông Tổ Nhánh 2 họ Lưu Quan
Thư của Hội đồng gia tộc họ Lưu Văn
Thư của Hội đồng gia tộc họ Lê Văn
Họ Lưu Quan tại Thành phố Đồng Hới gặp mặt đầu Xuân Canh Tý - 2020
Thư của Hội đồng Gia tộc họ Nguyễn Văn

Video clip