Logo Footer
Lorem Ipsum
Website title
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình. Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non. Cao Lao tiền thế đặt tên. Cao trông vời vợi, Lao bền không xiêu

Đường qua làng Hạ (phần 1)

Tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Phê

Làng Hạ, một làng nhỏ bình thường ở sát đường ô tô. Trước làng, một con hói nhỏ, rồi một cánh đồng, một viền xanh sẫm của làng Đông, rồi dãy cồn cát ven biển với những mảng dương đang lấn dần trên cát. Sau làng, những đồi lúp xúp sim mua liền chân với đồi thông. Xa nữa, Trường Sơn...

      Mùa hè năm 1967.

      Người dân làng Hạ nhớ mãi.

      Vài năm sau, những lớp thanh niên xa làng, mỗi khi nghĩ về quê hương sẽ tâm sự với bạn: “Các cậu ạ, cái mùa hè năm 1967...”

      Vài chục năm sau, hàng thế kỷ nữa, cứ vào mùa hoa phượng nở, lại nghe tiếng các thầy trong ngôi trường xây bên hói: “Dạo đó, mùa hè năm 1967...”

      Trong những đêm trăng, đàn cháu nhỏ sẽ vây quanh các cụ già nghe chuyện; câu chuyện kể rằng: mùa hè năm 1967...

      Giọng nói êm nhẹ, thấm sâu vào lòng người và ngân mãi như tiếng đồi thông reo sau làng.

      Mùa hè năm 1967...

      Cánh đồng sau làng lúa chiêm vừa gặt quang. Những đường nứt nẻ chi chít, ngoằn ngoèo như một mạng hào giao thông thu nhỏ. Chân đồi, rải rác những túp nhà đủ kiểu. Đây là chỗ sơ tán của bà con trong làng từ giữa năm ngoái. Trên đồi thông, ở những mảng vàng sạm lại, làn khói nâu lửng lơ bám dai dẳng. Trong nắng hè nóng bỏng, giặc Mỹ rải lân tinh đốt đồi thông.

      Lửa lân tinh cũng đã thiêu cháy cả một dãy nhà trong làng. Gió Lào còn nổi lên, kéo những lưỡi lửa hình thù kỳ quái tràn đi.

      Mùa hè, đất miền Trung, gió Lào khô khốc thổi cuồn cuột. Những tàu chuối rách xơ như bị ai cầm chiếc lược to cào xé. Trên đường, những cột bụi dựng lên, xoáy tròn rồi mù mịt vỡ tung.

      Dọc theo đường làng mịt mù đất bụi ấy, Hào đi thơ thẩn như người vô công rồi nghề, cái thân hình cao lênh khênh tưởng có thể nghiêng ngả trước những đợt gió Lào vừa nổi dậy.

      Hào dừng bước bên cây dương đầu làng, nơi tiếp giáp đường ô tô. Thực ra, thì gần một năm qua, đây là đoạn đường bỏ hoang. Cỏ hai bên lề đã mon men bò ra mặt đường. Giặc Mỹ đánh sập chiếc cầu nhỏ và nhấn chìm gần nửa ki-lô-mét đường ở đầu làng xuống nước. Những đoàn xe đi đường tránh loanh quanh dài gấp hai, đầy ổ gà, ổ trâu. Thỉnh thoảng mới có một vài chiếc xe, như chán ngán đoạn đường tránh quanh co lầy lội, phóng thẳng về làng Hạ, để rồi phải bực bội quay lui.

      Năm ngoái, một đội công nhân được dân làng Hạ giúp sức, định nối lại đoạn đường; nhưng vào lúc sắp thông xe, giặc Mỹ ào đến rải bom bi...

      Cho đến nay, những ngôi mộ bên đường cỏ xanh đã phủ kín; đoạn đường bị nhận chìm thì lại kéo dài thêm; Vi, phó Ty giao thông cùng kỹ sư Hào đi xe con về làng Hạ nghiên cứu phương án nối lại đoạn đường để phục vụ một kế hoạch đặc biệt - kế hoạch K5. Và để những đoàn xe, đoàn quân khỏi phải qua những đoạn đường tránh khốn khổ, được theo tuyến chính, con đường ngắn nhất đi tới đích.

      Đêm qua, trước lúc Vi lên xe trở về Ty, cũng bên cây dương đầu lối vào làng này, Hào nhắc lại ý kiến của mình:

      - Anh Vi ạ, phương án thì chỉ có cách làm ngầm. Em đã tính phác, ít ra cũng phải một vạn mét khối đá, tức là năm ngàn chuyến xe. Như vậy, nhanh ra cũng phải ba tháng...

      Vi ngắt lời, nhưng giọng nói thấp thoáng nụ cười nhỏ hiền lành:

      - Cái thời gian ấy thì không được rồi. Nhưng cậu cứ nghiên cứu, tính kỹ lại xem. Có điều, như mình đã nói, cậu đừng đơn thuần dựa vào những con số. Còn những yếu tố khác; dân làng sẽ giúp chúng ta.

      Giọng nói hiền lành của Vi, làm Hào mạnh dạn hẳn lên:

      - Điều ấy em hiểu rồi. Anh định nói sức mạnh chiến tranh nhân dân  chứ gì. Nhưng dù sao cũng phải dựa trên cơ sở vật chất. Mà con số thì ở đâu cũng có giá trị như nhau. Đó là em chưa kể khó khăn, thương vong địch gây ra. Đề nghị anh báo cáo với anh Hải, hay là cho tu sửa đường tránh...

      Vi bước lên xe dặn lại:

      - Thôi, Ty sẽ điều cậu Nam về làm việc cùng với cậu. Nhưng việc sửa đường tránh thì đó là vấn đề khác...

      Vi đã về Ty. Hào nhìn con đường vắng ngắt, nắng chói lòa, nghỉ đến những ý kiến của Vi đêm qua, bỗng buột miệng nói một mình:

      - Muôn thuở! Nói thì dễ...Chậc!

      Hào nghĩ đến Nam, người sắp về cộng tác với mình, khẽ chậc lưỡi, “để xem tài cán ra sao”, nhưng cũng có ý chờ đợi, mong có người mà bàn bạc tranh luận.

      Đường vẫn vắng ngắt. Chỉ có một bà mẹ, đầu vấn khăn trắng vừa đi ngang đường đến bên ngôi mộ, cắm hương. Chắc là bà mẹ có người con hy sinh trong lúc tham gia sửa đoạn đường này hồi năm ngoái.

      Bà quay lại. Hào như giật mình. Bà Nghi! Dù mới về làng, Hào vẫn nhận ra. Mờ sáng hôm qua, chính bà đã đuổi riết, không cho chiếc xe con của Vi đậu bên vườn!

      Hào nhìn bà Nghi bên những ngôi mộ, lại nhớ những ý kiến của Vi đêm qua; và trước mắt Hào là quãng nước mênh mông, trống trải rộng gần nửa ki-lô-mét vuông, mai đây sẽ là trận địa quyết chiến giữa trăm ngàn con người với bọn quỷ Mỹ. Hào khẽ lắc đầu...

  *

*     *

      Phút đầu gặp Nam khá vui. Bắt nguồn là bức ảnh một cô gái trong khung kính treo ở cột nhà cụ Tám. Cô gái quen quen. Hào như đã gặp đâu một lần. Khuôn mặt trái xoan, đôi mắt to, cái cằm thon nhỏ xinh xinh... Hào hỏi:

      - Anh Nam, cô nào đây?

      Nam nhìn Hào, vừa nói, vừa cười:

      - Chà! Sao cậu chóng quên thế?

      - A!... Tôi nhớ ra rồi!

      Hào lảng tránh cái nhìn của Nam, tai cứ đỏ dần. (Hơn nửa năm trước, Nam về Ty công tác, một anh chàng tò mò “khui” ra tấm ảnh cô em Nam . Bức ảnh qua tay nhiều người. Chẳng cần ngắm kỹ, mấy anh chàng có vợ và chưa vợ bíu lấy Nam “bẩm anh”, “thưa anh”, “anh Nam ơi!”  nhộn nhạo cả phòng. Anh nào giọng cũng ngọt xớt, “nịnh” nữa! Hào cũng ở trong số đó!)

      - Các cậu ở phòng kỹ thuật, đi nhiều nơi, lắm “phương án” quá, gì mà chẳng quên! Nhưng Hào này, nó sắp về đây đấy! Có bằng lòng làm em mình không?

      Đồng chí thợ cầu vừa cùng Nam ra xem đoạn đường bị đánh hỏng về, chen vào hỏi, rất nhỏ:

      - Ty định điều đại đội o Vân về à?

      Nghe giọng nói không giấu được vẻ mừng rỡ ấy, Hào vụt ngoảnh nhìn người thợ cầu chăm chú và như dò xét nữa. Nam vỗ vai người thợ cầu và vui vẻ nói với Hào:

      - À, mình quên giới thiệu. Cậu Tiêu, tổ trưởng tổ thợ cầu “15 tháng 7”, một tay.... Thôi, rồi làm việc với nhau, cậu sẽ biết.

      Tiêu thì như không để ý gì đến lời giới thiệu của Nam, hơi cúi đầu, giọng nói càng nhỏ hơn:

      - Đồng ý đi anh Hào. Nhận làm em anh Nam đi!

      Câu chuyện nửa đùa, nửa thật, nhưng Hào lúng túng, cười trừ. Nam nhìn thẳng vào Hào, nụ cười thấp thoáng làm bộ mặt vuông nghiêm nghị trở nên hiền lạ:

      - Mình biết tỏng rồi! Lắm “phương án”, khó chọn chứ gì! Liệu! Lắm mối, tối nằm không đấy!

      Không khí vui vẻ nhẹ nhỏm ấy qua đi mau chóng, cũng như làn gió nồm mát mẻ những buổi chiều hôm chỉ trong chốc lát là bị từng đợt gió Lào khô khốc lấn át đi. Hào trình bày cho Nam nghe về phương án làm ngầm, những con số về khối lượng đá, số xe phải điều động, thời gian thi công và nói:

      - Tôi tính hay là ta sửa đường tránh cũ. Tôi chỉ sợ như lần trước...

      Nam ngắt lời với giọng làng Hạ vốn không được mềm mại gì:

      - Không! Như lần trươc là thế nào? Anh Vi bảo mình là bất cứ giá nào cũng phải hoàn thành. Đừng bàn lùi. Cái khoản đường tránh thì ngán lắm rồi, đừng nhắc đến nữa. Cậu Tiêu đề xuất ý kiến rất hay: Hai đầu đỗ đá xếp ngầm, đoạn sâu nhất làm cầu chìm. Đây, như thế này...

      Nam nhặt một mảnh ngói vỡ, ngồi thụp xuống, vẽ phương án trên mặt đất. Hào đứng, tay chống nạnh, nghiêng mặt nhìn tận đâu. “ Đã thở cái giọng ấy thì đây thèm vào nói nữa. Được cái trung cấp quèn, chứ tài cán gì mà lên giọng chỉ huy! Thôi được, mặc!”

      Nếu không bất chợt bắt gặp lại khuôn mặt trái xoan xinh xinh của cô gái trong khung ảnh trước mặt, thì có lẽ Hào đã nói phăng những ý nghĩ ấy. Đôi mắt to, trong suốt của cô như đang cười với Hào, làm dịu bớt nỗi bực bội ở Hào. “Cô thì lúc nào cũng tươi tỉnh. Thế mà ông anh của cô...”

      Không biết gì đến thái độ khó chịu và lơ đểnh của Hào, những con số và nét vẽ ngang dọc -  hình ảnh ngày mai của công trình K5 - theo bàn tay Nam, hiện rõ dần trên nền nhà cụ Tám.

II

Chiều không còn nắng, nhưng trời vẫn sáng. Một cô gái đi ra từ phía ngầm. Dáng đi như nhảy nhót, như vội vàng. Nhìn chiếc mũ nhựa có vòng lưới ngụy trang và cánh áo cỏ úa đã bạc màu của cô, ai cũng biết cô là thanh niên xung phong. Vừa ra đến đường ô tô, thì có tiếng gọi phía sau:

      - Vân! Sao đi làm sớm thế?

     Vân dừng bước quay lại. Khuôn mặt trái xoan, tươi rói với đôi mắt to, trong trẻo hồn nhiên đến mức chỉ cần nhìn thoáng là thấy được cả tâm hồn đẹp đẽ bên trong. Gò má hơi cao, cái cằm thon nhỏ, làm nét mặt thêm linh hoạt, trẻ trung. Một giọng nói thanh thanh, còn dấu vết tuổi thơ:

      - Em đi trước xem lại chỗ quay xe. Anh ở chỗ làm đá về à?

      Anh nhìn đứa em gái, đôi mắt chợt dịu đi và thấp thoáng nụ cười. Thoạt nhìn, ít ai nghĩ đó là hai anh em ruột. Người anh cao lớn, vai rộng, mặt vuông gân guốc, nghiêm nghị. Chỉ có một nét giống: đôi gò má cao; nhưng nét đó làm cho anh thêm cứng cỏi, bướng bỉnh. Con người anh như không quen chịu ràng buộc. Chiếc mũ nhựa không lưới ngụy trang, vỡ một đoạn vành, úp hờ trên cái đầu to. Cánh áo nhuộm lại màu cỏ úa loang lổ, mở phanh cả hàng cúc, để lộ mảng áo lót trắng đục đẫm mồ hôi. Chiếc quần chéo xanh cũ xắn ngang ống, bám đầy bụi đường. Đôi bàn chân to kềnh, căng mấy sợi quai dép cao su cũng đầy bụi.

      Đi được mấy bước, Vân ngoảnh lại, nói như reo lên:

      - Anh Nam ơi! Có hai xe nữa, A6 chúng em vẫn bốc kịp!

      Rồi Vân đi, vẫn dáng đi như nhảy nhót, như vội vàng, mái tóc đen nhánh, gọn gàng trong chiếc cặp làm bằng vòng thép bó cánh bom bi dập dờn trên lưng áo đã bạc.

      Gần đến lô cốt hai tầng đầu ngầm, Vân bắt gặp Tiêu và anh em tổ thợ cầu. Người nào cũng mang xách nặng, cồng kềnh. Ba lô, chăn màn; chiếc thùng sắt đựng gạo chống cháy; tờ báo tường cuộn lại như một nòng pháo; cả một chú lợn đã quen với cuộc sống di động, bình thản nằm thở trong cái chuồng nhỏ hai người khiêng. Tổ thợ cầu của Tiêu mỗi lần chuyển quân, đều sắp xếp đội hình và “trang bị” như thế, làm trẻ con nhiều làng ngỡ là một đoàn xiếc, rủ nhau chạy theo xem. Tổ mới chuyển về làng Hạ làm hầm, nay lại định đi đâu?

      Vừa theo kịp Tiêu! Vân hỏi, hơi vội vàng:

      - Anh Tiêu! Tổ anh không làm đây nữa à?

      Tiêu chưa kịp trả lời, Lưu - một anh chàng béo mập, có đôi má phính, giọng lém lỉnh:

      - Thế o Vân giữ anh Tiêu của chúng tôi làm gì nào?

      Vân ngượng, một lát mới đáp được:

      - Em không đùa thế đâu! ... Chuyển đi đâu thế anh Tiêu?

      - Chúng tôi ra lô cốt ở. Để đi làm cho tiện. Trong làng lại đang thiếu hầm ngủ...

      Quyết định bất ngờ và táo bạo của Tiêu làm Vân như ngơ ngác. “Anh Tiêu, nguy hiểm lắm! Việc quan trọng thế mà sao anh vẫn thản nhiên như không...” Vân chưa kịp nói thêm, Tiêu và đồng đội đã rẽ lên lô cốt.

      Vân dừng bước, nhìn theo, lòng vẫn xáo động về việc tổ thợ cầu chuyển chỗ ở. “Thôi, em hiểu rồi! Các anh nhường hầm cho A6 chúng em chứ gì?...”

      Từ trên dốc cao, trước cửa lô cốt, Tiêu quay lại, vừa bắt gặp cái nhìn của Vân, đã nghe tiếng Lưu ẩn trong nụ cười mỉm tinh quái:

      - Cô bé xinh đấy chứ?

      Tiêu bước nhanh vào lô cốt, như muốn giấu bộ mặt tròn trịa, sạm nắng vừa ửng đỏ...

      Trong làng, cụ Tám đứng tựa cột giàn che nắng trước nhà, nhìn ra hướng Vân đi. Hàng dương đã che khuất đứa con gái út của cụ, nhưng cụ vẫn như thấy nó trước mặt...Nó đã đến gần lô cốt...Chỉ một quảng ngắn nữa là tới ngầm...Ôi chao! Khoảng nước mênh mông. Không bóng cây, không chỗ ẩn nấp. Trời thì cứ sáng mãi...

      Mới mấy ngày trước, cụ Tám như không nghĩ gì đến nỗi lo lắng. Nguồn vui đón “cậu cả” Nam từ miền Tây về còn ấm căn nhà, thì đại đội thanh niên xung phong của Vân tràn về, từ nửa đêm. Bước chân rậm rịch, những tiếng cười cố nén, làm cụ tỉnh giấc. Cụ lần ra cửa hầm, chong mắt nhìn phía ngõ, chờ đứa con gái út. Nhưng không thấy. Thằng Nam nghe lầm quyết định của cấp trên chăng? Vào hầm, trăn trở mãi, chợp mắt một tí, tỉnh dậy, trời đã sáng bạch. Cụ đi tìm con. Thanh niên xung phong đã tỏa khắp đường làng ngõ xóm, thỏa thuê hít thở không khí trong lành, dừng lại ngắm một buồng chuối vừa trổ, cánh áo hé mở để lộ những quả chuối non nằm sít nhau, hay lắng nghe tiếng đập thước kẻ của cô giáo điểm nhịp cho các em nhỏ đọc theo hàng chữ viết nắn nót trên bảng: “Vâng lời cha mẹ”. Cụ thấy đứa nào cũng giống nhau, mặc quần áo cỏ úa, trẻ trung tươi tắn. Đã có lúc, cụ suýt nhận lầm. Quay về gần đến nhà, cụ mới gặp con. Vân đang đi vào ngõ, nói đúng ra là nó nhảy nhót như đứa trẻ, mái tóc đen nhánh dập dờn trên lưng áo. Cụ định gọi, nhưng nó bỗng quay lại, rồi chạy xô đến ôm lấy cánh tay cụ: “Ôi trời! Bọ! ...” Hai bố con đứng bên nhau giữa hai cây dương trước ngõ, mái tóc đen nhánh của con áp sát vai áo nâu bạc của bố...

      Ôi chao! Thật cụ không ngờ! Hai năm qua, đã biết bao đêm cụ đứng đầu hồi nhà nhìn pháo sáng chập chờn trên đỉnh Trường Sơn, thấp thỏm lo cho hai anh em đang ở nơi mũi tên hòn đạn. Nay cả hai đứa về làng nguyên vẹn. Con Vân thì lớn hẳn, lại hồng hào, đẹp ra!

       Nhưng rồi cụ chợt hiểu. Hôm trước về làng, chiều tối hôm sau, lúc bà con đã ngồi quanh miệng hầm để kịp đối phó với bom “tọa độ”, thì chị em con Vân lại chong chong trên ô tô tiến ra ngầm, ra khoảng nước trống trải đến con chim bói cá cũng thiếu chỗ đứng đón mồi. Chúng nó thì cứ bá vai nhau, múa tay, cười hát át cả tiếng máy nổ. Những đứa phải vào núi làm đá, đứng nhìn theo thèm muốn, ghen tị nữa. Vân không nói gì với cụ, nhưng cụ biết niềm vui của con. Từ trưa, sau cuộc họp ở nhà hầm đội sản xuất, nó chạy xộc về nhà. Cụ đang ngồi chẻ lạt dưới giàn che nắng ở sân, nhưng nó chạy vào nhà với chị dâu. Nó biết tính cụ ít chuyện trò, cứ cặm cụi làm hết công này, việc nọ. Nó nói ríu lại, rất to, cốt để cụ nghe rõ:

      - Chị Lài ơi! Chị biết không? A6 của em được ra ngầm nhé!.... Kìa! Chị không mừng cho em à, chị không hiểu à? Chúng em sẽ được xếp những viên đá đầu tiên của công trình nhé! Được nhận việc khó khăn hơn cả chị ạ... A6 chúng em đang được giữ cờ anh Trỗi...

       Cụ lắng nghe, lưỡi mác nhọn loáng ánh thép dừng lại giữa thanh tre chẻ dở. Nó lớn nhiều, mà tính nết vẫn như trẻ con. Hồi sáng, vừa gặp chị dâu, đã gục mặt vào ngực chị khóc òa. Em khóc làm chị khóc theo. Cả hai đều nghĩ đến bé Sơn vừa mất... Lúc còn ở nhà, đi học về là Vân lại bế cháu, cù vào bụng, vào nách cho nó cười. Hai năm xa làng, lá thư nào viết về nó cũng nhắc đến bé Sơn, hẹn ngày gặp cháu... Nó khóc rưng rức, nhưng chỉ lát sau, đã bình tỉnh nói với chị: “ Em có lỗi với chị...Chẳng làm được gì cho chị vui, lại đi khóc lóc...” Nay thì nó như đã quên mọi chuyện, bíu cánh tay chị, rối rít chia niềm vui với chị. Ôi! Sao mà cái tính nó giống mẹ nó thế. Việc làng. Việc nước, chỉ muốn vươn lên đón gánh nặng phần mình!

      Chúng nó đã ra ngầm làm được ba đêm rồi. Đêm nào cũng có máy bay, nhưng chúng chỉ thả pháo sáng, ném bom vu vơ, nên gần sáng, cụ lại thở ra nhẹ nhõm, khi nghe tiếng cười đùa của chúng nó trên đường về hầm ngủ.

      Chiều nay nó đi sớm, một mình. Nó bảo ra tìm chỗ đắp rộng đường để xe quay vòng nhanh, chị em bốc đá khỏi chờ đợi. Nó cố giảng giải cho cụ hiểu, nhưng nó vừa đi khuất là cụ chẳng còn nghĩ gì đến điều đó nữa. Cụ đứng lặng dưới giàn che nắng, quần nâu ngang đầu gối, cái đầu húi “cua” hơi ngước lên. Cụ nhìn bầu trời xanh thẳm không gợn mây, rồi nhìn ra phía cồn cát, nhìn phía bến phà... Hình như vắng máy bay. Nhưng tụi nó ập đến thì cũng trong chớp mắt...

      Nam và một tốp thanh niên xung phong đi làm đá trong núi về. Bà Nghi vừa đến ngõ đứng lại nói:

      - Này, có phải hội hè chi mà đi hàng bảy, hàng ba thế các anh, các chị. Đầu làng, nhà mới sập; cuối làng, mới có người chết đó!

      Từ ngày ông Nghi mất, bà hay đến nhà cụ Tám than thở; nhưng hôm nay, vừa đến bậc cửa, bà quay ngay ra sân, hỏi cụ Tám một câu lấy lệ:

      - Con Vân đi đâu rồi cụ?

      - Nó có về nhà ở đâu... Nhưng nó vừa ra ngầm rồi!

      - Ôi dào! Không biết rồi có...

      Bà chợt dừng lại, buông tiếng thở dài, rồi vừa đi ra ngõ, vừa đưa tay vấn lại vành khăn sắp bung ra.

      Cụ Tám không giữ bà lại. Cụ biết, bà không muốn xáp mặt với Hào. Hình như anh Hào vẫn giận bà Nghi về việc đuổi chiếc xe con hôm nào. Chắc là anh chưa biết những mất mát của gia đình bà... Cụ bỗng thở dài. Nghĩ đến bà Nghi, cụ lại ngẫm cảnh nhà. Con Vân của cụ...

      Trời đã tối hẳn. Ngoài đường, những chiếc xe lại nối đuôi nhau chở đá ra xếp ngầm. Cụ Tám ngồi bên cửa hầm, lặng đếm từng giờ yên tĩnh trôi đi... Có lẽ đã được hai giờ qua. Chỉ một lần nghe tiếng bom phía  đường tránh dội lại. Nhưng rồi một chiếc phản lực từ phía biển lao vọt qua. Bốn cái chớp lóe trên đầu. Tưởng bom bi, cụ thụt nhanh vào hầm. Không phải, lát sau, ánh đèn dù đã rọi sáng thành ván cửa hầm. Cụ lần ra, nghé xem. Bốn cái đèn dù thấp dần. Đuôi khói ngoằn ngoèo như những con rắn trắng. Cụ nhìn phía ngầm, lẩm nhẩm: “ Không biết chúng nó có vào hầm kịp không?...” Ôi! Mà sao vắng lặng đến dễ sợ. Máy bay như đã biến đi. Cụ chợt nhận ra mình đang thở từng nhịp, to hơn ngày thường. Pháo sáng đã thấp lắm, nghe rõ tiếng thuốc cháy xèo xèo. Trong ánh sáng hơi xanh, mọi vật trước mắt cụ hiện rõ hơn cả ban ngày. Chợt có tiếng xe nổ máy; liền đó, chớp bom vàng ối át cả ánh pháo sáng; rồi tiếng nổ rất căng của loạt bom sát thương giật rung cả vách hầm.

      Cụ vụt đứng lên, định sang hầm Nam, nhưng bom lại đã rít veo veo và chớp lửa tung tóe sáng lựng phía ngầm? Cụ bật kêu lên: - Trời ơi! Con Vân...

       Bóng dáng cao lớn của Nam vụt chạy qua. Một đứa con cụ đang ở ngầm, giờ lại một đứa nữa chạy ra! Cụ thở hắt ra một hơi, lòng rối bời.

      Bọn cướp hình như kéo đến đông lắm. Chẳng còn phân biệt tiếng máy bay phía nào nữa. Loạt đèn dù thứ hai đã sáng. Tám cái dọc đường, xếp từng đôi như ai vừa treo một hàng bóng điện. “ Ôi thôi! Lộ xe rồi! Tụi nó đánh suốt đêm thôi!...”

III

Đêm đêm, dân làng Hạ đều xuống hầm ngủ. Những chiếc hầm qua hai năm đã nhiều lần thay đổi hình dáng và vị trí; từ kiểu hầm tròn, hầm chữ L có nắp năm 1965, kiểu hàm chéo đơn giản năm 1966; đến năm 1967 đã thành những chiếc hầm chéo chắc chắn có khi làm bằng những cột nhà và rầm phản trơn bóng.

      Trong làng, những ngôi nhà dần thu nhỏ, thấp bé đi, nhừng chỗ cho những ụ đất hầm ngày một cao. Những người sống cảnh ngủ hầm đầu tiên là các bà mẹ và trẻ nhỏ. Nay thì hầu như tất cả dân làng.

      Gần tháng nay, thằng Mỹ đánh đêm riết quá, nhiều nhà đêm đến còn phải  “đổi con”. Trong làng có gia đình ông Tường “bị” tất cả. Một loạt bom tọa độ; nhà bay, hầm cũng bay... Sau đêm đó, bà con nghĩ ra cách “đổi con”. Lỡ ra, mất người này, còn người khác.

      Hồi Nam chưa về làng và nhà cụ Tám chưa thành “ chỉ huy sở K5” thì tối tối, thằng Hòa con ông Vựng, bí thư chi bộ hợp tác xã làng Hạ vẫn đến ngủ với cụ Tám. Ông Vựng cười bảo: “ Tướng cụ thọ lắm. Tôi gửi thằng Hòa cho cụ, thế là yên tâm.”

      Những điều không may nhất cho một gia đình, bà con đã nghĩ đến, đã định liệu trước, nên cuộc sống căng thẳng đầy gian nguy rồi cũng trở nên bình thường. Nhưng đêm nay, trong làng nhốn nháo. Bí thư Vựng thì sau loạt bom đầu, đã trèo lên đỉnh hầm nhìn ra, miệng nhắc hai, ba lần: “ Thôi! Lộ rồi! Lộ rồi!”.

      Có người như bà Nghi thì ngồi xo trong hầm. Nam ra cửa hầm khi máy bay vừa thả pháo sáng. Nam cứ đứng lặng. Nhưng rồi tiếng xe, tiếng loạt bom sát thương dội vào. Nam kêu lên:

      - Lộ xe rồi! Nó đánh ngoài ngầm rồi!

      Lài lần ra cửa hầm, đưa tay vịn chân chồng và nói, rất nhỏ:

      - Anh Nam!

      Nam cúi nhìn vợ, nhưng rồi ngước lên ngay, nhìn ra phía ngầm. Tiếng xe vừa lặng, lại rồ lên, rồi một loạt bom nữa. Nam bứt đi.

      - Anh Nam! Máy bay còn liệng đấy!

      Đôi tay Lài vừa buột khỏi chân chồng chơi vơi phía trước.

      - Đừng ra vội anh Nam ơi!... Anh Nam ơi... ơi!...

       Nhưng Nam không quay lại, cũng không dừng bước.

      Lài buông xuôi tay, ngồi lặng giây lát, rồi bíu thành ván chậm chạp đứng lên. Một chiếc phản lực bỗng sà xuống, máy rú như cào lên đỉnh hầm; rồi tiếng rốc-két “hú-ụ”, tiếng đạn hai mươi ly “ục ục” chạy dài trên đường ra ngầm. Lài muốn cất tiếng nhắc nhở chồng nhưng cổ nghẹn lại và nước mắt trào ra.

      Hai năm qua, ở xa anh, nỗi mong nhớ anh, cả lòng tự hào về anh, đã lấn át nỗi lo lắng. Và thằng con dù nói chưa sõi, cũng đã biết nhắc nhở chị phải sống cho can đảm. Cứ mỗi lần nghe hỏi: “Bố cháu ở đâu?”, nó lại hơi nghiêng mặt trả lời: “Bố cháu đi đánh Mỹ!” Cặp mắt xanh biếc tròn xoe của nó như muốn hỏi lại: “Còn chú, còn cô thì làm gì?” Chị nhìn con, bỗng thấy mình cứng cỏi, vững vàng, như vừa tìm được chỗ dựa chắc chắn...

      Nay thì chị như con thuyền chở nặng giữa dòng thác, vừa buột mất cây sào. Loạt bom bi rơi vào khu vực nhà trẻ của chị. Chị bế được ba cháu nhỏ vào hầm, quay ra đã thấy cu Sơn hấp hối trước tầng cấp xuống nhà, chiếc ô tô con vật nghiêng bên cạnh, bánh xe nhỏ xíu vẫn quay tròn. Gần chục viên bi xuyên lưng thằng bé! Ôi! Cu Sơn đứa con trai đầu lòng của chị!

      Bà con, bạn bè vẫn bảo chị cố mà quên đi, cố mà vui lên, nhất là lúc mình bụng mang dạ chửa. Nhưng quên làm sao được!

      Giặc Mỹ đã cướp mất thằng cu Sơn của chị rồi. Chẳng lẽ... Không thể... không được... Chị muốn... Chị cũng chẳng biết sẽ làm gì, miễn sao che chở được anh. Nhưng có cách gì? Và cái tính của anh...

       Hồi nhỏ, một lần anh rủ chị vào đồi lấy tổ ong. Chị sợ, bàn lùi, nhưng anh cứ đi. Anh đem được tổ ong về với bộ mặt sưng phù, đỏ tía làm chị phát hoảng, kêu rú lên. Chỉ mấy ngày sau, anh lại bị bọn giặc ở đồn đánh cho thâm tím mặt mày. Lần này, chị thương anh, cắt cỏ giúp anh, nhưng anh như chẳng để ý, chẳng cảm động tý nào, lại cười đùa nhiều hơn những ngày trước. Về sau, chị mới biết, lúc đó anh đã làm liên lạc cho du kích. Anh thèm một khẩu súng. Không đủ sức vật chúng lấy súng, anh cứ lân la quanh đồn chờ dịp. Lũ giặc nghi, bắt anh đánh một trận nhừ tử. Nhưng tối hôm sau, anh đã bò vào lấy được súng, ngay cạnh tên lính gác gật gà...

      Ôi! Nhưng bây giờ trước mắt anh đâu phải đàn ong và tên lính gác ngủ gật. Bầy phản lực tức tối mất mồi ngon, đang lồng lộn gầm rít, khạc đạn hai-mươi-ly, phun rốc-khét bừa bãi, loại đèn này chưa tắt chúng đã tung loạt khác. Ánh pháo sáng chập chờn soi rõ nét mặt hơi sưng lên của chị, đôi môi mím lại nén tiếng khóc, bàn tay căng ra, run lên bíu chặt cửa hầm...

      Trong lô cốt hai tầng xây trên mô đất cao bên đường xuống hầm, gần chục người vây quanh một cô gái nằm trên tấm vải bạt. Nguyễn Thị Lý, tiểu đội trưởng tiểu đội 6.

      Chị em A6 vừa dỡ hết xe đá thì máy bay đến. Anh chàng Thìn thấy đèn dù sáng quá, sợ lộ xe, liều đánh đi. Nhưng xe vừa chuyển bánh, chớp bom đã lóe. Chiếc xe đứng ngắc lại. Sợ Thìn bị thương, Lý rồi Vân và Huyền rời hầm, men rãnh chạy lên. Nhưng xe đã chồm lên, lao vút đi. Thìn không bị thương, chỉ quá vội, nên xe chết máy. Hiểu ra, Lý chưa kịp trở lại hầm thì chớp bom đỏ lựng lại lóe trước mặt.

      Tiêu đã giúp chị em Vân đưa Lý vào lô cốt. Lý không bị vết thương nào, nhưng hơi bom xé rách gần hết áo quần. Lý vừa tỉnh lại. Vân ngồi cạnh, đầu hơi cúi hỏi nhỏ:

      - Chị có thấy đau chỗ nào không?

      - Không... Em khóc à?... Thế mà cứ cười chị.

      - Đâu! - Vân chối, nhưng ngay lúc đó, một giọt nước mắt đọng ở vành mi chảy xuống. Vân đưa ống tay áo chùi vội, giọng đã vui vui; mềm mại như cô em làm nũng - Chúng em gọi chị mấy tiếng, chẳng thấy trả lời...

      Vân chợt dừng lại, mỉm cười. Vân nhớ lần mình bị một hòn đá ném sưng vai và ngất đi vì sức ép loạt bom tọa độ bên ngầm K trên Trường Sơn. Buồn cười, xoàng thế mà chị Lý tưởng Vân chết, đã khóc; Vân tỉnh lại, chị Lý ấp nhẹ hai bàn tay lên vai Vân, mỉm cười mà mắt còn ngấn nước, nói nửa thật, nửa đùa: “ Em thoát được ba keo rồi! Cái số em thế là thọ!...”

      Hôm nay, Chị Lý cũng bị lần thứ ba. Vân mỉm cười thành tiếng, giọng đã vui hẳn:

      - Chị cũng thoát được “ba keo” rồi! Viết thư báo tin mừng cho anh Viên đi!

      Lô cốt rộn tiếng cười.

      Nam và đại đội trưởng Hóa ra lô cốt khi Lý còn mê. Đến nay, không còn lo cho tính mạng của Lý nữa, Hóa mới bảo Vân:

      - Lần sau, nếu có người bị thương, nhớ bắn súng báo động.

      - Báo cáo đội trưởng! Chúng em...

      Tiêu bỗng ngắt lời:

      - Tôi bảo các o đừng bắn đấy! Không cần thiết lắm. Ra đông nguy hiểm.

      Vân ngước nhìn Tiêu, nhưng anh thợ cầu ngoảnh vội. Anh như sợ hãi trước cái nhìn trìu mến ấy, trước đôi mắt trong trẻo hồn nhiên ấy.

      Từ khi vào lô cốt, Nam như cũng có ý lảng tránh những cái nhìn của Vân. Suốt quãng đường từ nhà ra ngầm, hầu như Nam không lo nghĩ gì về đứa em gái. Đoạn ngầm, người lái xe, chị em A6, tổ thợ cầu đều ở trong tầm bom đạn. Anh lo cho tất cả, nên chẳng nghĩ đến riêng ai. Vào lô cốt, chợt thấy Vân, anh như mất tự nhiên, lúng túng. Anh thấy giọt nước mắt chảy trên má nó, thấy nó cười... Thật là trẻ con và cũng thật là dễ thương. Anh không muốn để lộ tình cảm “riêng tư” trước các chiến sĩ; nhưng “kiểu cách” nó, khóc đó, cười đó lại buộc anh nghĩ đến nó, nên anh cố lảng đi. Anh bảo Hóa:

      - Anh cho người ở lại với o Lý rồi ta ra ngầm.

      Và anh là người đầu tiên ra cửa lô cốt.

      Nam xuống được nửa lối mòn, bỗng nghe tiếng chân chạy vội vã sau lưng.

      - Anh Nam! Anh lấy mũ em mà đội.

      - Đưa cho anh rồi...

      - Em vào lấy mũ con Huyền.

      Vân lại tung tăng chạy lên lô cốt.

      Nam dừng bước ngoái lại nhìn em. “Nó lại nghĩ chuyện che chở cho mình!...”

      - Anh có một đứa em thật...

      Nghe tiếng Hóa, Nam như giật mình, ngắt lời:

      - Thật là trẻ con phải không anh?

      - Thế thì anh chưa hiểu gì cô em của anh cả.

      Vân đã  đuổi kịp hai người. Nam bỗng nói:

      - Anh Hóa này, có lẽ ta nên đề nghị anh Vi cho bắt điện thoại ra lô cốt.

      - Thế thì tốt quá - Hóa cười, nói tiếp- Nhưng anh đừng lảng. Vân này, anh Nam vừa bảo Vân vẫn là đứa con nít! Chị em cô được cái mau nước mắt!

      - Đâu, em khóc lúc nào? Thủ trưởng cứ nói...

      Có tiếng còi pi pi hối hả từ xa vọng đến. Nam, Hóa dừng lại bên hố bom ăn lẹm nền đường. Vân gọi xuống phía ngầm, giọng cao vút, vang xa trong đêm:

      - Các cậu ơi! Lên lấp hố bom thông xe đã!

      Trăng vừa lên. Những ụ đất bom tung ra mặt đường, bên sáng, bên tối, trông càng ngổn ngang. Mùi thuốc bom đã bị gió bạt đi nhiều, vẫn hăng sặc. Những nỗi lo lắng vừa đến với Nam, cũng mờ mờ, tỏ tỏ, ngổn ngang làm Nam như bối rối... Hỏng quá! Chúng nó biết ý định của ta quá sớm... Mới trận đầu, bom đã rơi dưới chân lô cốt... Liệu tổ cậu Tiêu có đứng vững không? Và những chàng lái xe vừa ra trường như Thìn? Cả con Vân nữa...Anh Hóa nói đúng. Chúng nó mau nước mắt quá. Nếu thương vong nhiều... Lại còn bọ và Lài ở nhà chắc đang mỏi mắt chờ tin lành dữ...

      Từ lúc vừa rời căn hầm, Nam nghĩ đến Lài có lẽ đang khóc lóc giận dỗi phía sau; nhưng quay lại ư ? Không, Nam không quen thế.

      Mấy hôm trước, khi nhận điện của Ty gọi về, bạn bè nài Nam nán lại một buổi, để có thì giờ xoay tí thực phẩm làm bữa liên hoan và anh em còn trò chuyện trước lúc chia tay. Bao giờ mới có dịp gặp lại? ( Và một điều không ai nói ra, biết đâu sẽ không bao giờ gặp nhau nữa. Cuộc chiến đấu đang lúc gay go!) Nhưng công việc phía trước đang cần; Nam đã “dứt áo” bạn bè ra đi, chịu tiếng là con người khô khan, ít tình cảm. Để rồi về làng Hạ, có đêm tỉnh giấc vì bom nổ, bỗng nhớ những ngày sống ở Trường Sơn, lòng xốn xang không làm sao ngủ lại được nữa. Lài hỏi, Nam lúng túng không làm sao diễn đạt được tâm trạng của mình. Một đoạn đường dốc ở Cà Lèng, Nam bị bom vùi hai lần, người không bị thương, chỉ rách toạc lưng áo và vỡ đoạn vành chiếc mũ nhựa một chiến sĩ vừa cho. Một anh bạn kỹ sư trẻ măng, kém Nam gần chục tuổi, Nam vừa giới thiệu vào Đảng tuần trước; Lối mòn lên lán, những ngày mưa in đầy dấu gậy; Một chỗ nằm trên sạp nứa trong cái lán nhỏ, mái ngắn, mái dài... Nào có gì đặc sắc mà thao thức nhớ nhung?...

       Chị em Vân đã mở thông lối xuống ngầm. Những chiếc xe lại nối đuôi nhau chở đá xuống. Thìn định trèo lên bệ xe giúp chị em vần những hòn đá nặng, bỗng gặp Nam đang hì hục kiểm tra đoạn ngầm vừa xếp. Tự cho mình là người gây ra tai vạ, và cũng đã biết tính Nam, Thìn muốn nhận lỗi, nhưng hoảng hốt, lúng túng, chẳng biết nói lỗi mình là gì.

      - Anh Nam... Em ... Vì em đánh xe chạy...

      Lúc vừa biết chuyện, Nam những tưởng nếu có Thìn trước mắt thì Nam đã quát lên. Bây giờ, nhìn anh chàng đứng cạnh, đầu hơi cúi, tóc rối bời, hai bàn tay vô tội cứ bóp lẫn nhau, Nam bỗng thấy lòng dịu lại, khẽ bảo:

      - Thôi! Cậu về nghỉ đi. Lỡ rồi, biết làm sao. Cũng chỉ vì cậu quý chiếc xe...

  *

*    *

      Sáng hôm sau, cụ Tám ghé thăm Lý, rồi tìm đến chỗ ở của chị em Vân. Trong nhà lặng lẽ. Vân và Huyền đang ngủ trên giường con. Giường đặt ở khoảng đất đã hạ thấp hơn nền nhà để tránh mảnh bom. Vân nằm nghiêng, lấy tay làm gối, những sợi tóc đen mềm mại xõa trùm gò má ửng hồng. Trong giấc ngủ say, chị em Vân trông như nhỏ bé đi, ngây thơ và dể thương hơn.

      Cụ Tám đứng lặng ngắm nhìn con. Dòng nước mắt tưởng đã khô cạn từ bao giờ bỗng thấm ướt đôi gò má nhăn nheo, dạn dày của cụ. Ôi! Đã gần hai mươi năm qua!... Chẳng có cách gì che chở được cho nó, đứa con gái út bé nhỏ thơ dại của cụ. Nó lớn lên, trông càng giống mẹ nó... Những ý nghĩ như trái ngược nhau nhưng lại chung một nguồn yêu thương.

      Chị chủ nhà ở bếp lên, chưa kịp mời cụ Tám ngồi, cụ đã xua tay, nói câu gì đó mà chính cụ cũng không hiểu nữa, rồi quay ra. Chị nhìn theo, ngạc nhiên, vì cử chỉ vội vàng mà lúng túng, vì nét mặt ngượng ngùng của cụ; nhưng khi quay nhìn Vân, chị đã hiểu. Chị cười, nụ cười hiền lành của người mẹ.

      Chị xuống bếp chọn mấy củ khoai để vào chiếc bát men cũ đưa lên nhà, đặt khẽ trên bàn, lấy rổ con đậy lại. Chị nhìn Vân như muốn bảo: “Các o dậy chưa có cơm, đói bụng ăn tạm củ khoai...”

      Trở về nhà, cụ Tám cuốc vườn được một lúc thì Nam ở ngầm về. Anh ra xem lại những vết tích trận đánh đêm qua, lượng định khả năng thăm dò của địch đối với công trình.

      Cụ Tám đưa mắt nhìn Nam, chống cuốc đứng lặng một lúc rồi vào nhà. Cụ rút chiếc khăn đã cáu bẩn vắt ở dây thép trước nhà lau mặt, lau tay, rồi lại gần Nam hỏi:

      - Hôm nay mày không vào chỗ làm đá à?

      - Cơm xong, con đi.

      Nam khẽ trả lời, nhìn bố như muốn hỏi: “ Sao hôm nay bố để ý đến công  việc của con như thế?”

      Cụ Tám đi lại mấy bước, rồi ngồi xuống cạnh Nam. Nam liếc nhìn bố dò hỏi, cố phán đoán mà không sao hiểu bố sẽ nói chuyện gì. Nhưng cụ Tám cứ ngồi lặng, mái tóc húi “cua” dựng lên cứng cỏi, khăn vắt vai, tay phe phẩy quạt, tay chống lên đầu gối để trần. Cụ vẫn quen mặc quần đùi, Đôi chân đã tóp lại, nhưng nước da có màu đồng hun khỏe mạnh và nom bộ còn săn gân. Lát sau, thấy bố vẫn chẳng nói gì, Nam hỏi:

      - Bọ định bảo con chuyện gì thế?

      - À... không... Nhưng Nam ạ, chẳng thà mày ở xa... Mấy tháng vừa rồi, con Lài đã khóc hết nước mắt. Tối qua, lúc mày đi rồi, nó khóc đấy...

      - Nhưng bọ bảo con ở nhà...

      - Mày chạy ra là phải, nhưng cũng phải nói năng thế nào với nó...

      Cụ Tám nói nhanh khác thường, rồi đưa khăn lau mồ hôi ở mặt, ở cổ lúc này đã đỏ lựng lên. Nam lại nhìn bố, dò hỏi. Hình như còn điều gì khác, bố còn phân vân. Bố nhắc chuyện Lài, cũng như người đang do dự trước hai ngả đường, chợt thấy quán nước, vội rẽ vào nghỉ tạm.

      Hào về, và đồng chí phụ trách tổ xe đến báo cáo tình hình xăng dầu; rồi điện thoại từ Đội cầu gọi. Đội trưởng Bái nghe tin địch đánh, lấy cớ “bảo đảm an toàn”, đòi rút tổ Tiêu vào làng làm hầm ở... Cụ Tám thì hình như cũng không định nói gì nữa. Cụ đứng dậy lấy cây mác ra sân ngồi mài dưới giàn che nắng. Lưỡi mác lướt trên hòn đá mài nhẹ nhàng, chậm rãi. Được vài lần, cụ ngừng lại, mấy ngón tay mân mê mãi mép lưỡi mác, nhưng đôi mắt lại hướng vào góc sân gần ngõ. Ở đó, một vết nắng lọt qua giàn che, khẽ di động. Cụ chớp chớp mắt và bỗng cảm thấy đôi mắt mình như hoa lên, nhòa đi...

      ... Không, không phải một vết nắng nhỏ nhoi, hiền lành. Một đám cháy, lửa bốc ngùn ngụt và gió Lào cuốn mùi xăng hăng sặc, trùm lên tiếng trẻ con khóc thét...

      Không, không phải một vệt sáng bình thường. Một vệt máu chảy loang trên ngực áo người vợ đang hấp hối, tiếng thều thào đứt quãng: “Cái Vân... Ông thương lấy nó...”

      Đã gần hai mươi năm qua, thời giặc Pháp còn chiếm làng...

      Nhớ lời trăng trối của vợ, cụ Tám cặm cụi làm ăn, lặng lẽ sống cảnh gà trống nuôi con, lặng lẽ trông chờ và cũng lặng lẽ hưởng nguồn vui thấy con khôn lớn. Chỉ một lần, ba năm trước, sau khi hợp tác xã dựng được lò ngói, trong bữa cơm mừng nhà mới, cụ đã nhấp chém rượu, gật gù mỉm cười rồi vỗ đùi ông Nghi: “Cánh ta chắc đã qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai”. Nhưng chỉ sau đó mấy hôm, cụ nghe tin địch tập kích vào Đồng Hới và hai tháng sau, thằng Đông ra đi! Ờ, thì ra đất nước chưa yên hàn, lũ chúng nó chưa muốn cho dân làng cụ sống cảnh yên hàn.

      Nay thì cả ba đứa con cụ đều ở chỗ mũi tên hòn đạn cả. Thằng Nam, thằng Đông, chẳng nói làm gì. Cả cụ nữa, nếu có công việc, cụ cũng chẳng ngại. Nhưng còn con Vân!... Chẳng thà ở đâu xa. Đằng này... Nói dại, nếu nó có mệnh hệ nào thị cụ cũng khó mà sống được. Hay là... Hay là bảo thằng Nam nói với anh Hóa một tiếng... Đâu cũng là công việc cả, đổi cho nó đến chỗ làm đá...

Tác giả: Nguyễn Khắc Phê

0 / 5 (0Bình chọn)
Bình luận
Gửi bình luận
Bình luận

    Video mới nhất

    Bản hùng ca trên sông

    Hình ảnh mới nhất

    Một số hình ảnh lễ cúng Cồn Cui 2026

    Thống kê truy cập

    Hôm nay: 7226

    Trong tuần: 7226

    Trong tháng: 20214

    Tổng số: 13284497

    Đang online: 82

    quan_ly_thong_bao