Logo Footer
Lorem Ipsum
Website title
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình. Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non. Cao Lao tiền thế đặt tên. Cao trông vời vợi, Lao bền không xiêu

Đường qua Làng Hạ (phần 3)

Tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Phê

 

      Hào đi làm với tổ Tiêu, gần sáng mới về hầm nghỉ. Tỉnh dậy, ra cửa, đã thấy Vân dọn gần xong sân, đang gạt đất vụn ở góc gần hầm. Vậy mà Vân còn nói:

      - Sao anh dậy sớm thế? Em làm ồn, anh không ngủ được phải không?

      Hào bỗng thấy hơi ngượng, lúng túng, quay lại hầm lấy quần dài mặc; trở ra thì quãng sân như đã trống hẳn. A, cô Vân đi rồi! Cô chưa ra khỏi ngõ “...Em làm ồn, anh không ngủ được phải không?...” Giọng thanh thanh đến là dễ thương. Và cái nhìn tươi tỉnh của cô...

      Vân đi khuất, Hào bước ra giữa sân uốn lưng, vươn tay, hít một hơi dài. Mùi thuốc bom hăng, sặc xộc vào mũi làm Hào phải thở hắt ra mấy cái liền. Hào mặc may ô, cái thân hình vốn đã lòng khòng, trông khẳng khiu, dài ngoãng ra, trông buồn cười. Từ ngoài ngõ, Vi đưa tay vẫy Hào gọi:

      - Ra đây! Ra làm mấy động tác thể dục này là tỉnh táo ngay!

      Vi và Nam đang san đất, sửa quảng đường làng bị hố bom ăn lẹm. Giọng Vi nghiêm nghị, khác hẳn ngày thường:

      - Cậu trẻ con lắm!... Thế ra cậu làm việc chỉ để cho người ta khỏi nói thôi à? Phải nhớ cậu là người chỉ huy...

      - Không, chẳng phải vì ai nói gì đâu... Em cũng thấy áy náy. Anh em lăn lộn giữa cầu, giữa ngầm...

      - Thôi đi! Cậu thương anh em thì tốt nhất là tìm cách rút được thời gian thi công, giảm được thương vong...

      Hào lẳng lặng cào đất xuống hố bom, thỉnh thoảng lại ngước nhìn Vi, rồi nhìn Nam. Cái ông Vi nom hiền lành, chẳng mấy khi thấy tranh cãi với ai, gần như “ba phải” vậy, sao bỗng dưng ăn nói cương quyết, sắc sảo như vậy? Còn anh chàng Nam với đôi gò má ương ngạnh, lúc nào như cũng nhô ra, chọc vào người ta, thì nay lại nhũn nhặn, hiền lành thế?

      Không ai nói gì nữa, chỉ còn nghe tiếng đất khô chạy xuống hố bom rào rào, nhưng bên tai Hào như còn vẳng câu nói của Vi: “... Giảm được thương vong... thương vong...” Và Hào bỗng lại nghĩ đến đường tránh. Hào dừng cuốc, nhìn Vi, rồi nói:

      - Anh Vi ạ, em lo rồi thương vong nhiều. Giá như để số quân này sửa đường tránh cũ, hoặc làm đường tránh mới...

      Nam vụt ngửng lên, nhìn thẳng vào Hào ngắt lời:

      - Đến lúc này mà cậu con luẩn quẩn với cái đường tránh, đường xế!

      Hào quay nhìn Nam, thoáng chút ngơ ngác về sự thay đổi thái độ đột ngột của anh chàng, nhưng rồi dằn giọng, nói:

      - Chưa biết rồi ai luẩn quẩn! Mà tôi cũng nói vậy...

      Nam vẫn nhìn chằm chằm vào Hào, như cố tìm những điều Hào không nói ra đang ẩn sau nét mặt xương xương có cái nhìn bối rối ấy. Và Nam nói một mạch, giọng mỗi lúc một to, một gay gắt, nhưng không nhìn vào mặt Hào nữa, dường như Nam đang nhằm vào một kẻ nào khác, một “kẻ thù” của Nam, cả của chính Hào :

      - “Nói vậy” là thế nào? Đang lúc gay go, cậu cứ “nói vậy” vài lần với anh em thì rồi quân lại không hoang mang à? Cứ bám cái ngon ăn của ba đoạn đường tránh, đến mùa mưa lầy lội, trút cả đống cực nhọc, thương vong cho anh em lái xe. Hay chắn đường lại rồi bảo với thằng Mỹ chỉ đánh nhau mùa nắng thôi?...

      - Anh không phải dạy tôi!

      Hào nói hắt ra một câu, rồi đột ngột dừng lại, cái cổ cao hơi gầy rung chuyển cả lên như đang phải cố nuốt một cục to, đầy gai góc. Vi đứng giữa, không kịp chen lời nào. Vi không bằng lòng thái độ Nam, nhưng lại không thể bênh vực ý kiến Hào, nên nghĩ một lúc mới nói:

      - Các cậu dễ nổi nóng mà cũng dễ tự ái quá! Cậu Hào muốn giảm thương vong là điều tốt. Nhưng còn thương vong ở miền Nam?... Mà chẳng ở đâu xa, các cậu nghe tin vụ Vĩnh Quang chưa? Máy bay B.52 dội gần ngàn quả bom vào ba thôn nhỏ... Làm đường tránh có thể đỡ thương vong cho mình, nhưng để xe đi chậm trễ, thì cũng như tăng thương vong cho đồng bào. Làm giao thông mà như thế là có tội to đấy Hào ạ. Đừng cho tôi là “lên lớp”. Việc đơn giản nhưng không nhìn xa, không quên mình đi thì cũng khó nhận ra và rất dễ quên. Lại còn yêu cầu đặc biệt của kế hoạch K5 nữa... Ấy là chưa nói đến chuyện đời. Hễ cứ mỗi lúc gặp khó khăn nguy hiểm lại tìm đường lẩn tránh thì rồi đi đến đâu?...

      Vi vừa san đất, vừa nhỏ nhẹ tâm tình. Nam và Hào lắng nghe, cắm cúi làm, cho đến khi con đường làng bằng phẳng như cũ.

      Nhiều bà con đi qua tỏ ý khen ngợi. Bà Nghi thì định lảng, đi lối khác; bà vẫn ngại gặp Vi và Hào, những người ngồi trên chiếc xe con bà đuổi hôm nào. Nhưng lỡ rồi, bà đành đi qua. bà vừa đi, vừa đưa tay vấn lại vành khăn và nói, giọng xuýt xoa:

      - Quý hóa quá! Các ông lo đường cho xe chạy, lại lo cả đường cho dân làng đi.

      - Bà khen gì chúng tôi. Chúng tôi chỉ học theo cụ Tám thôi.

       Vi đáp lại vui vẻ, nhưng Hào thì lánh một bên, nhìn bà Nghi như nhìn một vật lạ. Bà Nghi dừng bước bên ngõ, nói với vào trong nhà:

      - Cụ không biết làng xóm đang dỡ nhà đi à?

      Từ trên mái nhà đã lợp lại tới nóc, tiếng cụ Tám vọng xuống, chậm rãi, trầm trầm:

      - Bà có đi không mà hỏi vậy?

      - Cụ bảo đi đâu? Tổ tiên mình đây, có chết ở đây cũng đành!

      - Phải! Đi mà sống yên ổn một mình, thì thà ở giữa làng còn hơn...

      Bà nói một đằng, cụ nghĩ một nẻo, nhưng cả hai, đều có vẻ vừa lòng vì đã tìm ra người bạn tâm đắc.

 

VI

 

            Chi đoàn thanh niên nhận việc chuyển nhà trẻ vào ven đồi. Đó không phải nơi an toàn. Giặc Mỹ cũng đã ba lần vãi bom vào, nhưng ở thưa ra, vẫn hơn.

          Tí, cô bí thư chi đoàn, đến rất sớm nhưng đã thấy Lài đang chuyển các thứ đồ dùng ra. Lài gần sinh, Vựng và cụ Tám đã mấy lần bảo nghỉ, nhưng sợ ở nhà rồi buồn, Lài vẫn đi làm.

          Từ xa, thấy dáng đi chậm chạp, vất vả của Lài với một bên tay là chiếc chậu tráng men, một bên là cái nôi tre như chiếc lồng bàn bầu dục, Tí vừa chạy lại vừa kêu:

         - Chị cứ để mặc bọn em. Bọn em túm lại, chỉ một tí là xong thôi mà !

        Thế rồi bên dáng người cao lớn, hơi đẫy đà của Lài đủng đỉnh đi ra đi vào cửa nhà hầm nhỏ hẹp, thêm dáng người thâm thấp, tròn trĩnh của Tí, chạy ra, chạy vaò hối hả. Một chị, dường như vẫn nhớ tiếc nhà trẻ đã quen thuộc, bế đứa con chưa đầy năm, đến “xem” các cô chú thanh niên làm việc.Tí vừa chuyển một chuyến xoong bát ra sân, dừng lại bên người mẹ, nói nựng đứa bé:

        - Thế nào? Ra giục các cô đấy à? Cứ yên trí! Chỉ ngày mai là các cháu lại có nhà hầm đẹp, chắc chắn hơn đây nhiều. Cha tổ cái thằng Mỹ bắt các cháu của cô chui hầm khổ nhỉ?...

         Tí vừa nói vừa đưa ngón  tay nâng khẽ cái cằm có ngấn của chú nhỏ, mắt nhìn đăm đăm vào mặt chú, như cả trái đất này chỉ có chú nhỏ đó thôi. Lài tựa cửa nhà hầm, lặng nhìn. Lài muốn dành phút yên tĩnh cho Tí được bộc lộ tâm tình tự nhiên; nhưng đằng sau Tí, một anh chàng đã cất tiếng oang oang:

      - O Tí mà được một thằng cu thế này thì thích phải biết nhé!

      Tí giật mình, cái tay đang nâng cằm đứa bé rụt vội, bộ mặt bầu bĩnh thoáng ửng đỏ, giọng nói lúng túng:

      - Anh thì cứ... Bom đạn suốt đêm, suốt ngày thế này, có con thì...

      Nam đến nhà trẻ thì Lài vừa đi sang ven đồi. Theo đến rìa làng, Nam đã thấy Lài đi trên bờ ruộng nhỏ nối với khu sơ tán. Tay cầm chiếc chậu tráng men, tay xách chiếc thùng bằng ống bom bi gò lại, Lài bước chậm rãi, chắc chắn, vậy mà Nam tưởng như Lài chệnh choạng, sắp ngã. Nam muốn chạy ra đỡ các thứ cho Lài, dìu Lài đi, nhưng rồi dừng bước ở rìa làng, gọi:

      - Lài!

      Lài ngoảnh lại, khuôn mặt đầy đặn như hơi sưng lên, lặng lẽ, bỗng thoáng nét vui mừng. Lài đang nghĩ đến Nam và lúc này thì chẳng còn một chút hờn giận, chỉ trọn niềm yêu thương.

      Hôm qua, khi biết nhà trẻ phải sơ tán vào ven đồi, như là linh tính riêng của người mẹ đã báo cho Lài biết, làng Hạ rồi sẽ có những biến động lớn lao. Lài chưa hình dung được nó sẽ như thế nào, nhưng những nỗi lo riêng bỗng chìm lắng xuống; và như trước một cơn bão lớn, mọi sinh vật trên mặt đất đều muốn trở nên cứng cõi, vững vàng hơn.

      Sáng nay, tựa cửa nhà trẻ nhìn Tí nâng cằm đứa bé, nghĩ đến điều ước mong thầm kín, đến lòng can đảm của đứa em dâu, dù cách xa biền biệt người thương, vẫn sống lạc quan, Lài còn thấy như hổ thẹn và ao ước được sống lại những năm tháng đã qua. Đầu năm ngoái, khi đội công nhân về sửa đoạn đường qua làng, Lài đã gửi bé Sơn cho ông, đi làm mấy đêm liền. Trong đêm giặc Mỹ rải bom bi, chính cô Chóc con bà Nghi đã ngã xuống cạnh Lài... Nhưng rồi bé Sơn chết, rồi có mang... Mỗi lúc thấy băn khoăn về những phút mềm yếu của mình. Lài vẫn tìm ở đó những lời bênh vực, an ủi. Nhưng nay Lài chẳng cần một sự an ủi, một lời bênh vực nào nữa. Không phải Lài đã quên được nỗi đau xót. Chỗ Tí đứng nâng cằm đứa bé, cũng chính là chỗ thằng cu Sơn kéo chiếc ô tô con trước khi loạt bom bi rơi; cũng chỗ đó nó đã nghiêng đầu, trả lời Tí: “Bố cháu đi đánh Mỹ!” Lài đã dạy con câu trả lời đó; nay nó chẳng còn nữa, nhưng chính nó lại đang nhắc nhủ chị, cặp mắt xanh biếc, tròn xoe của nó nhìn chị và hỏi: “Còn mẹ, mẹ đang làm gì?”... Lài đã thấy là chỉ có sống dũng cảm mới là cách sống xứng đáng của một con người, trước hết là của một bà mẹ; vì đó là cách tốt nhất chuẩn bị cho tương lai những đứa con.

      Những ý nghĩ mới mẽ đem đến cho Lài một niềm vui, niềm vui bỡ ngỡ; Lài muốn gặp Nam để chia sẻ nhưng chỉ sau một thoáng nhìn bộ mặt hốc hác và phờ phạc vì mất ngủ của chồng, Lài nói:

      - Anh về ngủ đi! Anh gầy rộc đi rồi!

      Lài đi mấy bước, bỗng quay lại:

      - Anh Nam ạ, mấy ngày nay, bọ như thế nào ấy. Em lo bọ ốm mất thôi. Chắc là bọ lo cho con Vân. Anh làm thế nào, chứ...

      Lài không nói được hết câu, chỉ nhìn Nam rồi khẽ lắc đầu.

      Nam không ngờ Lài nói chuyện đó, nên một lát sau mới nói:

      - Ừ, bọ gầy đi nhiều... nhưng biết làm thế nào được?...

      Vợ chồng lặng nhìn nhau, nhưng những ánh mắt vẫn chuyện trò.

      - “... Em nghĩ đến nỗi lo của bọ, em lo giấc ngủ cho anh, nghĩa là em chẳng cần ai động viên an ủi?...”

      - “... Anh về ngủ đi! Anh không phải lo gì cho em cả. Tự em, em đã hiểu... em đủ sức...”

      Lài đi, từng bước, chậm rãi, chắc chắn. Bờ ruộng nhấp nhô, nhưng bây giờ Nam chẳng còn lo gì cho những bước đi của Lài. Lài đã một mình vượt qua một chặng đường gay go hơn, một mình đón gánh nặng không cân, không máy nào đo được và thật khó chia sẻ với ai...

      Ôi! Thằng cu Sơn!... Nhớ những kỹ niệm hạnh phúc chỉ làm nỗi đau thêm sâu nặng, nhưng có thể nào quên được!

      ... Thằng bé ra đời lúc Nam đang ở một công trường miền Tây. Việc đó, bạn bè Nam cũng biết trước đến mấy tháng. Cái điều Lài nói một cách úp mở, hơi ngượng ngùng trong lá thư gửi chồng, Nam không giữ kín được quá một ngày. Nam đã nhẩm đặt tên trước cho con dù trai hay gái cũng lấy tên là Sơn, để ghi nhớ ngày nó ra đời, bố nó ở một con đường Trường Sơn.

      Hơn nửa năm trước, trong dịp về Ty công tác, Nam được ghé nhà. Nam dắt xe chưa đến ngõ, cu Sơn đã theo Lài lon ton chạy lại. Nó chưa nhận ra bố, nép sát vào chân mẹ. Nam dừng xe ở giàn bí ôm xốc con lên hôn hít. Thằng bé ngoảnh mặt, giơ tay về phía mẹ. Lài bước lại, ôm lấy con, áp đầu thằng bé vào vai mình, cúi hôn vai con như để giấu nụ cười có chút ngượng ngùng, nhưng thỏa mãn sung sướng. Đến chiều hôm sau thì nó đã “chơi thân” với Nam, dù nói chưa sõi đã biết hát “cháu yêu chú giải phóng quân” cho Nam nghe. Nó chỉ hát hai câu rồi chạy xô lại, ấp mặt lên vai Nam, hơi thở nóng hổi thấm qua lớp vải dày. Lát sau, nó ngửng lên chỉ mấy vành rá ông vừa vót, treo ở tường, reo lên: “Bố ơi! Chữ O nhiều quá!...”

      Ôi! Thằng bé thật ngộ nghĩnh, thông minh! Nhưng còn đâu nữa! Vì những viên bom bi của thằng Mỹ! Một sự tình cờ, tin buồn đến với Nam cũng trên con đường Trường Sơn mà Nam đã mở rộng ba năm trước. Chỉ khác là lá thư ngắn ngủi, chữ nguệch ngoạc, vài chữ nhòe vì thấm nước mắt Lài, Nam đọc xong, gấp nhỏ vào túi trước ngực và không nói với bạn bè một lời nào. Cho đến chập tối, khi một anh bạn vô tình lần mò trên chiếc “O-ri-ông-tông” bật ra tiếng nhạc giật gân của đài Hoa-kỳ xập xòeng  nhặng lên, Nam lừ mắt bảo:

      - Tắt đi cậu!

      Anh bạn chưa kịp tắt, Nam đã bước lại, bấm đánh “tách”, cắt ngang cái giọng khê nồng: “... Phi cơ Hoa-kỳ...”

      Anh bạn ngước nhìn Nam, chưa kịp nói gì, thì Nam đã dằn từng tiếng, giận dữ:

      - Nó vãi bom giết vợ anh, giết con anh ở nhà, mà anh lại cười cợt chong tai lên nghe nó sủa!

      Đã ba tháng qua rồi! Cho dù ba năm, ba mươi năm qua đi nữa, Nam vẫn không quên được. Nhưng từ hôm về nhà, Nam tránh mọi lời nói, cử chỉ gợi Lài nhớ đến bé Sơn. Người ta, một dứa con, một lần mang nặng đẻ đau, nhưng với bé Sơn, Lài đã phải trải thêm một lần đau đớn khó có gì sánh được. Lài lại đang mang một đứa con trong lòng; nhắc chuyện cũ để Lài phải trải thêm những lần đau đớn nữa sao?...

      Đứng ở rìa làng, nhìn từng bước đi khó nhọc của Lài, nghĩ đến nỗi vất vả đau đớn mà Lài đã lặng lẽ chịu đựng trong những ngày qua, Nam vừa thấy băn khoăn chẳng giúp đỡ gì được Lài, lại vừa thoáng chút ân hận vì đã có lúc Nam thỏa mãn với những cố gắng của mình, tưởng chỉ có mình ở giữa rừng sâu mới khó nhọc, vất vả.

      Những ý nghĩ như trái ngược cứ quyện lẫn trong tình thương yêu chẳng mấy khi Nam thổ lộ, nay đang làm Nam xao xuyến. Nam bỗng thấy mũi mình như ngạt đi trong chốc lát và nước mắt rưng rưng “...Lài sắp sinh rồi! Chẳng còn mấy ngày nữa. Đã bom đạn, trời lại nóng thế này... Mình đã nhờ mấy cậu mua lít mật ong, sao mãi chưa thấy gửi về...”

*

*    *

     

      Cụ Tám vẫn chưa nói gì với Nam và cũng không đợi Lài nhắc nhở, Nam mới biết nỗi lo lắng của bố. Từ sáng, khi cụ Tám giận dữ trèo lên mái nhà, Nam đã tự trách mình vô tâm. Ai lại đi bô bô nói chuyện nguy hiểm trước người bố đang mất ăn, mất ngủ vì con. Và những chi tiết trước đây Nam bỏ qua, theo nhau hiện ra rõ mồn một... Buổi trưa gặp Bái, khi Nam ở núi đá về. Một lần, Nam đã nghe bố hỏi Vân: “ Các con rồi có đổi vào chỗ làm đá không?...” Hơn nửa tháng trước, bố cũng nhắc Nam bảo ban Vân, nó còn trẻ, bồng bột, liều lĩnh... Bố còn nhắc lời trăng trối của mẹ, và cứ phân vân là đã không để cho nó ăn học thành nghề...

       Buổi trưa, trước khi vào núi đá, nhìn bố thiu thiu ngủ ở chõng tre, cánh tay gầy guộc buông thõng chạm đất, nét mặt hằn những nếp nhăn, Nam bỗng thấy mình như hoảng hốt, ân hận. “ Thôi! Đến phải nói với cậu Hóa chuyển A6 về sản xuất đá một thời gian.” Nhưng vừa đến núi đá, Nam đứng sững lại. Có tiếng nói vọng lên từ trong lòng mình: “ Này! Anh định tìm anh Hóa đấy à? Anh mà đi làm cái trò ấy thì thật đẹp mặt!” Nam đưa mắt nhìn các chiến sĩ xung quanh... Không, chẳng có cậu nào biết những suy nghĩ của anh. Chỉ có cậu Tín ở A1 thủ thỉ bên tai anh: “ Anh Nam ơi! Anh nói với thủ trưởng Hóa cho A chúng em ra ngầm với! Thủ trưởng Hóa cứ ưu tiên cho A6, gì mà A6 chẳng được giữ cờ mãi!...”

      Một chuyến đá theo đường dây cáp ro ro chạy xuống xô vào cột đỡ; những viên đá hộc va nhau đôm đốp. Một loạt mìn nổ phía xa, rền mãi. Anh chàng thống kê đến mời Nam đi nghiệm thu khối lượng.

      Nam đi, như vội vã và có ý vui mừng. Thế là khỏi phải trả lời yêu cầu của cậu Tín, cũng khỏi phải giải đáp nỗi băn khoăn của chính mình.

      Chiều, từ núi đá về, Nam dừng lại bên ngôi mộ của mẹ ở chân đồi. Thường ngày, Nam đi đường cái, nhưng hôm nay, Nam bỗng rẽ về lối chân đồi như theo một sự dắt dẫn ngoài ý muốn của mình.

      Bên trái ngôi mộ của mẹ là ngôi mộ bé Sơn. Một nấm đất nhỏ, cỏ vừa nhú; trước mộ, bó hương cháy tàn, để lại nắm tre nhỏ chưa phai màu tím.

      Trời về chiều, phía làng còn ánh nắng, nhưng chân đồi đã có bóng mát của đỉnh đồi thông nghiêng đến. Bầu không khí dịu dần. Cây cỏ ngậm nắng, tỏa một mùi thơm nồng ngòn ngọt; say say. Nam ngồi xuống vạt cỏ bên mộ, tay cầm mũ nhựa phe phẩy quạt, tay lần nhổ cỏ may ở ống quần.

      Từ ngày về làng, không mấy lúc Nam được yên tĩnh. Cả trong những giấc ngủ ngày mệt nhọc, vội vàng, cũng phải giật mình luôn vì tiếng phản lực rít, tiếng bom nổ rung vách hầm. Được bữa vắng tụi nó thì lại nằm mơ, cũng vẫn là tiếng máy bay, tiếng bom, tiếng xe đổ đá, rồi những cái hầm chưa có cách gì làm được...

      Nay thì yên tĩnh, chỉ một mình Nam bên chân đồi... Không, không phải một mình Nam. Còn bé Sơn, còn mẹ nữa. Mẹ không nằm im. Mẹ đang đứng trước mặt Nam, búi tóc sổ tung, cánh áo chưa kịp gài, để lộ mảng yếm ướt sữa sẩm màu, bàn tay túm chặt vai áo thằng giặc cầm bùi nhùi...

      Gần hai mươi năm qua rồi! Ngày ấy, Nam mới chỉ là chú liên lạc cho đội du kích của Vựng. Mới mờ sáng, toán giặc ở lô cốt được bon ở đồn huyện về giúp ập vào đốt làng, lấy cớ trả thù việc du kích lật chiếc xe “Dép” Lúc đó, trong nhà cụ Tám, Vi đang họp với Vựng và một số cán bộ xã. Để Vi có thời giờ xuống hầm bí mật và các cán bộ kịp phân tán, mẹ chạy ra ngõ, níu áo thằng giặc cầm bùi nhùi. Mẹ kêu van, rồi mẹ chửi... Thằng Tây đi trong bọn rút súng lục bắn mẹ ngay giữa sân. Nhà cháy, cái Vân đang nằm trong nhà khóc thét. Trong phút hấp hối, mẹ chỉ kịp nói với bố: “ Cái Vân trong nhà... Ông thương lấy nó...” Rồi tắt thở...

      Cho đến nay, Nam cũng chưa thật hiểu vì sao mà mẹ, chứ không phải là bố, đã đến với cách mạng sớm thế. Mẹ là người phụ nữ đầu tiên ở làng Hạ được kết nạp vào Đảng. Có phải vì bố quá hiền lành, ít nói và chậm chạp. Nhưng mẹ thì cũng có gì đặc biệt đâu? Mẹ cũng cặm cụi làm lụng suốt từ mờ đất đến khuya, cũng chưa bao giờ dùng roi vọt đối với Nam; dù công việc bộn bề, mùa sim chín, mỗi khi lên đồi thông nhặt củi, thế nào mẹ cũng dành thì giờ hái sim làm quà cho Nam... Một lần, Nam hỏi Vựng. Ông không cắt nghĩa được, chỉ nói với Nam, có lẽ mẹ bước vào con đường cách mạng từ một buổi sáng năm 1945, khi cùng dân làng kéo lên huyện giành chính quyền và phá kho thóc Nhật. Ngẫm một lúc, ông nói thêm: “ Mà sao anh lại băn khoăn như thế? Người hiền lành, chịu thương, chịu khó càng dễ đi với cách mạng chứ sao? Còn ông cụ thì... con người ta, mỗi người một tính, nhưng trong làng, mấy ai được bà con quý trọng như ông cụ nhà anh?...”

      Nhớ lại những chuyện cũ, Nam như người đang mê sực tỉnh. “Bọ ơi! Chính vì nhớ lời trăng trối của mẹ mà con đã dắt em Vân đi tiếp con đường mẹ đã dẫn con đi. Bọ đừng giận chúng con... Thế nào rồi bọ cũng thông cảm với chúng con...”

      Nam đứng dậy, đi học chân đồi. Trước mặt, ngôi nhà trẻ mới dựng, mái gần chạm đất. Từ xa, vẫn thấy màu đỏ sẫm của đất đồi mới đào lên, đắp quanh và mái nhà lổ chỗ màu ngói mới đỏ tươi, lẫn màu rêu ngói cũ. Kể cả bốn trận bom, đây là lần thứ năm, bà con phải góp ngói mới đủ lợp kín hai mái nhà...

 

 

VII

      Đã hai tháng rồi vùng làng Hạ không mưa. Chỉ nắng và gió Lào. Đổ gáo nước xuống sân nghe xèo xèo như đổ mỡ vào chảo nóng. Ruộng phải làm lúa vãi; bà con đứng đập đất, bụi trắng quẩn quanh tưởng như đang bơi trong khói, trong sương. Cây sắn quắt lại, lá vàng đầy gốc. Những tàu chuối rách xơ, khô dần, quăn lại...

      Cái nóng bỏng ngày hè, về đêm, cũng chẳng dịu được mấy. Mặt trời vừa lặn, những đám lửa bốc khói trắng đục hun muỗi tuôn ra từ các cửa hầm; tiếng gọi trẻ nhao nhác khắp làng. Lũ trẻ say chơi, vùng vằng trở về hầm, mặt cau có. Chưa tối, những chùm pháo sáng đã lập lòe đây đó và bọn B.57 chở nặng những thùng bom lân tinh, lại rì rì lượn dọc, lượn ngang. Một tiếng “bụp” tn cao, nhx ống đựng lân tinh bằng cổ chân bật lao xuống; rồi những vòi lửa vụt lên tung tóe. Đám cháy lân tinh có khi dài hàng ki-lô-mét, dai dẳng; mặt trời lên khỏi cồn cát, những đám khói trắng thối hoăng mùi lân tinh vẫn nghi ngút. Và ngày hè nóng bỏng lại bắt đầu với những việc không định trước: Chuyển người bị thương đi bệnh viện; chôn cất người hy sinh; chặt tre làm bục trét đất cất lúa cho hợp tác xã, góp tranh, phên, quần áo và hàng chục thứ vật dùng giúp các gia đình bị nạn. Lại còn lo tiếp đón các cháu Vĩnh Linh sơ tán qua làng; rồi một đợt dân công hỏa tuyến sắp lên đường...

      Người ta như không còn một chút nào được yên tĩnh nữa.

      Ở làng Hạ, những phút yên tĩnh càng hiếm. Cuộc chiến đấu ở cầu ngầm cứ tự nhiên ùa vào mỗi gia đình. Đầu hôm, nửa đêm hoặc gần sáng đều có thể rộn tiếng gọi đi làm, tiếng cười đùa trên đường về hầm ngủ, tiếng còi xe, tiếng kẻng báo động và cả tiếng hò đóng cọc ngoài hói vọng vào.

      Bà con như ít ngủ hơn trước. Có người như bà Nghi đêm nay thì gần sáng, vẫn còn thao thức. Nằm mỏi và trong hầm quá nóng, bà lần ra cửa hầm. Vành trăng gần cuối tháng mảnh dẻ, lợt lạt đã lên gần cây sào. Tiếng hò đóng cọc “Dô ta này! Dô ta này!” và tiếng vồ nện thình thịch vọng vào bà nghe rõ mồn một. Bà ngồi dựa cửa hầm, nhìn ra phía hầm, thỉnh thoảng lại thở dài. Bà chẳng còn đứa con nào để lo cho nó nữa. Mặc cho bà đêm ngày thành tâm cầu Trời Phật phù hộ, tai họa vẫn giáng xuống. Bà sinh nở bảy lần, nhưng chỉ nuôi lớn được hai cô sau cùng. “Sao cái thời trước trẻ chết non nhiều làm vậy?” Đã có lần, bà tự hỏi vậy, nhưng rồi bà lại tự đổ cho cái số mình không may. Như để ma quỷ khỏi chú ý, bà cố chọn tên thật xấu đặt cho hai cô: Chóc và Dủm. Nhưng bà chẳng lường đến cái thứ ma quỷ trên tàu bay phản lực Mỹ. Lũ ma quỷ Mỹ cướp mất của bà cả hai cô con gái, cướp cả chồng bà; đều trong chớp mắt, hung bạo, tàn nhẫn.

      Cô Chóc, thì buổi chiều mới đọc thư chồng cho bà nghe, thế mà tối đến, vừa ra đến hói, sau một loạt bom bi...

      Ông Nghi thì vừa đi cày về, bà nghe tiếng rít thuốc quen thuộc của ông chưa trọn hơi, thì tiếng rú của một “Con Ma” Mỹ chợt rùng lên trên bầu trời làng Hạ; rồi cũng một loạt bom bi!

      Mất Chóc, bà giận mình đã để nó ra nơi bom đạn, rồi lại cho vì cái số bà không may. Đến lượt ông Nghi, bà vẫn nghĩ vì cái số bà, nhưng còn vì mấy chiếc ô tô đi lạc, ngụy trang không kín, lại để vết bánh trên đường làng. Để đối phó lại, bà giữ không cho Dủm ra những nơi nguy hiểm, xua những chiếc xe đậu bên vườn và thêm thành tâm cầu Trời Phật phù hộ. Nhưng rồi đến lượt Dủm, đứa con duy nhất bà còn lại...

      Buổi trưa, Dủm mới ngồi bắt chấy cho bà, mới học hát với Vân, với Lý đó. Chiều, cùng bà con đi đập đất làm lúa vãi ở chân đồi, thì tai họa như trời giáng: sáu quả bom “tọa độ”, mười người làm, chỉ còn ba lành lặn!

      Bà vẫn ngồi tựa cửa hầm, nghĩ đến chồng, đến con. Lòng bà đau như cắt, nhưng lại như tỉnh táo ra. Bà muốn có bạn để thổ lộ nỗi lòng; nhưng quanh bà chỉ có lũ muỗi vo ve và mấy con mọt kẽo kẹt trong cột hầm.

      Bà lại thấy như hiện ra trước mắt cái đêm Dủm van xin đi dân công hỏa tuyến. “Mẹ ơi! Mẹ có thương con, muốn con tiến bộ, mẹ cho con đi!” Bà mẹ nào lại không thương con, không muốn con tiến bộ; nhưng bà Nghi cứ một mực giữ Dủm ở nhà. Bà chỉ còn mình nó thôi! Đêm ấy, Dủm cứ ngồi mãi ở cửa hầm, để tiếng nấc, tiếng khịt mũi vọng vào. Chị em làng Hạ ra hỏa tuyến sáu tháng, vừa trở về hôm kia. Ra đi mười, về đủ, cũng chẳng ai bị thương, lại được huyện xã, làng xóm đón tiếp long trọng và cả mười cô có giấy khen đem về...

      Bà Nghi lại cúi xuống, đưa tà áo chùi nước mắt, miệng lẩm nhẩm: “Dủm ơi! Mẹ có tội với con rồi!...”

      Chợt có tiếng phản lực. Phía ngầm, kẻng báo động buông hai tiếng thong thả. Chúng bay qua, chắc bọn đánh miền Tây về. Nhưng không, tiếng phản lực nghe xoay tròn trên đầu. Bà ngồi xo lại, ngước lên, như cố bắt lấy bóng dáng cái bọn ma quỷ Mỹ đang nấp bóng đêm gây tội ác và chợt nghĩ đến anh chị em đang ở ngầm. Lâu rồi, bà không ra đó, nhưng bà không lạ. Một vùng trống không, chỉ nghĩ đến cũng đủ rợn người. Ôi! Mà sao vẫn nghe tiếng xe, tiếng vồ đóng cọc thình thịch. Không ai nghe tiếng máy bay, tiếng kẻng cả sao? Bỗng kẻnh dồn dập ba tiếng một. Tiếng vồ bặt đi, tiếng xe rộ lên một lát rồi xa dần. Hai đèn dù đã bật sáng chênh chếch phía ngầm. Bà Nghi phải lần vào hầm và miệng lầm nhầm cầu Trời Phật phù hộ.

      Đèn dù còn cao, một chùm bom đã ríu rít bay qua làng rơi phía ngầm. Đèn vừa tắt, lại một loạt như thế nữa. Bom sát thương, tiếng nổ căng như xé không khí. Thế rồi lặng ngắt. Bà Nghi lại lần ra cửa hầm. Mờ sáng rồi. Vành trăng mỏng manh lên cao trắng hắn. Bà đứng dậy nhìn ra phía ngầm chờ đợi. Trời! Sao bà sợ cái lặng lẽ này thế! Bà thở đến phào khi nghe tiếng vồ thình thịch lại dội vào và thấy các chiến sĩ trên đường về. Trời phù hộ, lại được một đêm yên lành qua!

      Tốp chiến sĩ về đầu tiên đã đến vườn bà. Những ngày trước, bà coi việc đó là “tai họa”. Hầu như ngày nào bà cũng phải kêu la, khi thì đi thành tốp quá đông, khi thì vì một chiến sĩ vội đuổi cho kịp bạn, chạy băng vườn, làm gãy tàu chuối, dẫm lên đám đất bà vừa cuốc.. Mảnh vườn bà, hòn đất không nghỉ, một năm ba bốn lần thu hoạch. Đầu năm trỉa ngô, rồi trỉa thêm đậu. Thu hoạch ngô đậu xong, vừa kịp làm lúa vãi. Cuối năm trồng khoai. Lại còn hàng chuối, bụi tre quanh vườn, và cái giàn che nắng trước sân chưa tàn bầu bí, mướp đã ra hoa... Nhưng hôm nay, bà mong có người đi qua mà hỏi. Tiếng trả lời bà rằng “không”, nhưng bà cảm giác sự thật nó ngược lại, những bước đi chậm chạp, nét mặt buồn, mắt nhìn xuống và tiếng cười vắng hẳn, đã nói với bà điều đó. Bà còn thoáng nghe ở một tốp con gái: “Chị Lý chắc không sống nổi...”

      Tiếng vồ thình thịch, kiên nhẫn, gan góc vẫn dội vào. Sao mấy anh ở đội cầu liều thế? Nó mới đánh đó, trời lại sáng rồi. Bà không sao hiểu nổi. Bà cứ nhìn đoàn quân đi qua, chờ đợi, nỗi lo một lúc một tăng. Không thấy Vân, Lý, thấy Nam về. Hay đúng là Lý... Bà không muốn nghĩ tiếp. Không, con người phúc hậu, quý hóa như Lý dễ mà chết được ư?...

      Nghĩ tới Lý, bà lại nhớ đến Dủm. Từ khi máy bay ném bom, bà như đã quên nỗi buồn riêng. Nay bà lại nhớ đến, nhưng nỗi đau buồn như vơi nhiều lắm? Cái Dủm thế mà tinh mắt, tinh đời. Bà sợ con đàn đúm với bạn bè, nhưng bà mừng, thấy Dủm chơi thân với Lý, với Vân.

      Chiều qua, khi khói bom cuộn lên phủ kín mấy khoảnh ruộng gần chân đồi, Lý, Vân cùng nhiều chiến sĩ đang ngủ, bật dậy, vác băng-ca tắt vườn, vượt hào mà chạy. Bà Nghi ra được nửa đường đã thấy Lý, Vân khiêng Dủm về, rồi cùng dân quân trong làng đưa Dủm đi bệnh viện. Y tá đã lấy máu của Lý, của Vân... thử để chuyền cho Dủm, nhưng Dủm không sống được.

      Trở về làng, Lý và Vân ở nhà bà đến chập tối. Bà ngồi ở bậc cửa, nhìn từng bước đi của hai cô gái, nhưng mãi đến khi hai cô ra khỏi ngõ, bà như mới hiểu là hai cô sẽ ra ngầm. Bà bỗng thấy hốt hoảng, muốn gọi lại. “Ôi! Chúng nó đi ra cái chỗ bom đạn mà bình thản như không! Các anh bộ đội còn có khẩu súng mà bắn lại; đằng này, chúng nó chỉ hai bàn tay không!”

      Nay, người đã về nhiều, sao không thấy chúng nó. Chẳng lẽ cả hai đứa... Không, tiếng đóng cọc vẫn dội vào gan góc, kiên nhẫn. Nhưng trời ơi! Cái cảnh hôm qua lại đã hiện ra. Vân và ba chiến sĩ khiêng băng-ca, phía trên, một tấm chăn phủ kín, nhưng bà Nghi đã hiểu. Bà thốt lên:

      - Vân ơi! Ôi Lý ơi! Và bà khóc như chiều qua bà khóc con mình.

*

*    *

      Hào nhận ra tiếng Vân, giọng khắt lại: “Chị Lý! Chị Lý ơi!...” nhưng chẳng có tiếng trả lời.

      Không ai chú ý đến Hào, cũng chẳng ai trách Hào, vì nếu Hào không vào hầm đó, mấy cô cũng chạy ra. Nhưng khi nhìn nét mặt nhợt nhạt của Lý trong lô cốt, Hào càng thấy day dứt. “Ừ, nếu mình đừng vội... Có lẽ Lý không phải chạy ra...”

      Vòng băng quanh lưng Lý màu đỏ dần loang rộng. Hào run lên, nhưng không hề nghĩ đến chuyện lánh đi, cứ ngồi lặng, góp tay giữ một chân Lý. Mất máu nhiều, Lý choáng nặng, chỉ muốn giãy lên, thỉnh thoảng thốt lên từng câu ngắn, rời rạc. “... Huyên! Chạy ra đi!... May quá! Xe đi rồi!... Anh Viên ơi!.. Em gắng lên... Chi bộ đã xét em...” Nhưng rồi Lý không giãy nữa, đầu ngoặt một bên. Vân ôm lấy Lý, khóc nức lên, hai bàn tay nhỏ nhắn ngâm nước lâu trắng bợt, nhăn nhúm túm chặt đôi vai Lý lắc lắc.

      Trời đã sáng. Hai cô gái cầm đèn pin quên tắt, hai đốm vàng nhỏ nhoi mờ dần, rồi tắt hẳn.

      Hào không thật hiểu tình chị em giữa Vân và Lý, không hiểu hết tình đồng đội của chiến sĩ A6, nhưng bỗng Hào thấy mình có lỗi với Vân, với những cô gái đang xúm quanh người tiểu đội trưởng của mình. Hào rời tay khỏi ống chân Lý đang lạnh dần, không khóc thành tiếng, nhưng nước mắt đã tràn ra.

      Chẳng còn hy vọng nữa, cũng chẳng còn việc gì cho Hào làm, nhưng một sợi dây vô hình mà bền chặt cứ giữ Hào lại. Cùng với tốp người cuối cùng rời lô cốt, Hào đưa Lý về làng, rồi lên đồi thông, giúp chị em Vân đào huyệt. Chẳng ai nói gì với nhau; cũng không có tiếng khóc nữa. Tiếng xé vải, tiếng cuốc chim, xà beng mổ vào đất sỏi cứng nghe khô khan, cứng lạnh bật căng từng nhịp, rồi lặng phắc...

      Lần đầu, biết thế nào là chỗ tận cùng của một cuộc đời, Hào cứ bàng hoàng ngơ ngác và cảm thấy mình như mềm yếu đi. Vi thì đã không biết bao nhiêu lần...; và nỗi đau đớn lại làm Vi thêm cứng cỏi. Ông còn muốn từ chỗ tận cùng cuộc đời mỗi chiến sĩ, phải làm nảy sinh một sức sống mới, phải bắt đầu những công việc có ý nghĩa hơn.

      Vi về Ty họp Đảng ủy, trở ra làng Hạ còn kịp thấy Lý lần cuối cùng. Ngay bên ngôi mộ vừa đắp, Vi hội ý công việc với một số cán bộ và quyết định họp các đảng viên.

      Chỉ một tiếng đồng hồ sau, từ lô cốt bên ngầm, từ nhiều gia đình trong làng, các Đảng viên công nhân và thanh niên xung phong đã tập trung đông đủ trong một nhà hầm của đội sản xuất.

      Bắt đầu cuộc họp, Vi nói, rất nhỏ:

      - Mời các đồng chí đứng dậy... Một phút mặc niệm đồng chí Nguyễn Thị Lý...

      Phía cuối nhà hầm, một tiếng khóc không nén được, nấc lên.

      Đợi các chiến sĩ ngồi yên, Vi nói trước hết đến chiến thắng Đông Xuân của miền Nam anh hùng diệt 175.000 tên địch, bắn rơi phá hủy 1.800 máy bay, gần 1.800 xe bọc thép...; rồi chiến công miền Bắc hạ 2.000 máy bay Mỹ, được Hồ Chủ tịch gửi thư khen, được Quốc hội tuyên dương công trạng, trong đó, “các lực lượng giao thông vận tải, các đơn vị thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước đã chiến đấu kiên cường, khắc phục khó khăn, giữ vững mạch máu của Tổ quốc...”

      Trong nhà hầm, không ai cúi đầu nữa. Các cô gái đã thôi khịt mũi. Hóa đứng dậy:

      - Nào! Chúng ta hát một bài!

      Vi đưa mắt nhìn Hóa, rất ngạc nhiên và như muốn ngăn lại: “Đồng chí mới hy sinh... vừa mặc niệm...” Nhưng tiếng hát đã cất lên, to dần:

      “Ta đi mở đường theo tiếng gọi của Tổ quốc, khi đất nước cần ta đây tuổi thanh niên đáp lời. Quên sao anh em đồng chí của ta, mặt đường nhuốm máu nhưng vẫn cất cao lời ca...”

      Bài hát này Vi đã nghe đôi lần; nhưng với Nam thì rất quen thuộc. Mỗi lần nhìn thanh niên xung phong hát, Nam lại thấy mình như rung lên và nước mắt rưng rưng. Nam không buồn, không yếu đuối, chỉ quá xúc động trước âm điệu hào hùng của bài hát gợi Nam nhớ những ngày chiến đấu trên Trường Sơn... Con đường lượn quanh những triền núi đứng, vươn dài và cao mãi... Những cột khói bom cuộn lên tối sầm cả một khoảng rừng... Những đoàn quân vác bộc phá, cuốc xẻng từ những lán, những hầm ẩn kín trong rừng tượt dốc ra mặt đường. Những bím tóc, những chùm dây cháy chậm trắng xóa lắp sẵn  kíp đồng sáng loáng nhảy nhót sau lưng... Lại những chớp bom đỏ lựng, những bóng người ngã xuống, rồi những bóng người đội đất đá lên... những chớp sáng bộc phá đánh vào vách núi từng đợt, tiếng nổ chuyển nhau, ngân mãi. Rồi những chuyến xe nặng, những khẩu pháo vươn nòng về sau, lắc lư trườn quanh những hố bom vừa thấm máu chiến sĩ mở đường...

      Tiếng hát trầm hùng, rắn rỏi vẫn vang động nhà hầm, át tiếng gió Lào khô khốc cuồn cuột vừa nổi: “...Máu ta dẫu đổ vì mạch máu của đất nước, vững tâm chẳng sờn chi. Ôi! Những con đường thân yêu! Ta quên sao nơi luyện chúng ta thành người...”

      Dứt tiếng hát, phòng họp đã có tiếng hỏi chuyện nhau, tiếng bật lửa hút thuốc. Vi lại nhìn Hóa, nhưng bây giờ là cái nhìn thông cảm, ngợi khen và như cả biết ơn nữa.

      Cuộc họp không đề ra được nhiều biện pháp cụ thể, nhưng đã khẳng định quyết tâm lúc đầu: “Bất cứ giá nào, cũng hoàn thành công trình đúng thời hạn”. Hóa xin phép hỏi riêng thanh niên xung phong:

      - Các đồng chí! Trong tình hình địch đánh ác liệt hơn, hy sinh nhiều hơn, chúng ta có quyết tâm bám ngầm hoàn thành công trình đúng thời hạn không?

      Tiếng hô “quyết tâm” nhất loạt, rắn rỏi vang động nhà hầm. Vi nhìn Hóa, gật đầu mỉm cười, có ý bảo: “Được! Được! Đúng là tư thế thanh niên xung phong!”

Tác giả: Nguyễn Khắc Phê

0 / 5 (0Bình chọn)
Bình luận
Gửi bình luận
Bình luận

    Video mới nhất

    Bản hùng ca trên sông

    Hình ảnh mới nhất

    Một số hình ảnh lễ cúng Cồn Cui 2026

    Thống kê truy cập

    Hôm nay: 7228

    Trong tuần: 7228

    Trong tháng: 20216

    Tổng số: 13284499

    Đang online: 82

    quan_ly_thong_bao