Rời cuộc họp, Nam đi ra phía đường ô tô. Cũng không có mục đích gì cụ thể. Nam chỉ muốn được một mình suy nghĩ.
Từ buổi sáng Vi nhắc trách nhiệm người chỉ huy, không lúc nào Nam được thảnh thơi. Nam hiểu, dù có thương vong cuộc chiến đấu vẫn phải tiếp tục, để những đoàn xe được qua con đường ngắn nhất đi tới đích. Nhưng thằng địch phá như thế, khó mà kịp thời hạn. Kế hoạch K5 thì cấp trên không cho phép chậm một ngày. Hôm nay, lòng xót xa vì mất thêm một đồng chí, nỗi băn khoăn ấy xoắn lại, thắt lại và đòi phải gỡ ra.
Nam dừng bước bên cây dương đầu làng, nơi tiếp giáp đường ô tô. Vẫn chưa có đoàn xe nào qua được đoạn đường này, nhưng cả hai bên lề đường đã bị những chiếc xe chở đá tránh nhau xéo nát. Dưới ánh nắng chói chang, nhiều chỗ hằn rõ vết bánh xe ô tô. “Hừ! Chúng mày trông vào đây mà đánh à? Hòng bắt chúng tao bỏ cuộc à? Đừng hòng!...” Nam tự nhủ như vậy và trong giây phút đó, một ý kiến bật ra như tia chớp: phải làm một đường nghi trang, một đường giả cho vệt bánh xe thật rõ!
Nam bước ra giữa đường ô tô, quay nhìn vào làng. Phải! Một đường giả, băng qua làng! Có nhiều bom, mày cứ giã; cho mày khoan khoái tưởng chúng tao nản, phải tránh đi!
Ý nghĩ như một ngọn lửa, bừng cháy rất nhanh, nhưng rồi cũng tắt mau chóng. Thật không dễ dàng gì! Đường băng qua làng! Phải dời đến gần nửa làng! Và đường băng qua vườn bà Nghi!...
... Một câu chuyện bốn năm trước, vụt hiện ra trước mắt Nam. Hồi đó, để làm cầu mới qua hói làng Hạ, phải mở một đường xế cho xe đi tạm, đường xế ngắn nhưng phải băng qua vườn của bà Nghi. Đủ loại cán bộ đã đến vận động giải thích, Nam thì đã nổi nóng, nặng lời với bà, nhưng bà cứ bỏ ngoài tai, khăng khăng giữ đất ruộng của mình...
Nam nhìn một vệt trống cắt chéo qua làng trong tưởng tượng, khẽ lắc đầu và tự mắng mình:
- Thật là điên rồ!
Dù vậy, đoạn đường giả-một vệt trống cắt chéo qua làng, cứ hiện ra mỗi lúc một rõ, làm Nam không sao dứt được. Mi mắt cứng đờ vì mất ngủ, lại nhìn quá lâu dưới nắng gắt, mọi vật trước mắt Nam như nhảy nhót, lung lay, hơi mờ đi; và trên cái nền đó, con đường giả hiện ra, trông rõ như những vệt bánh xe hằn sâu, những nền nhà bỏ trống, những hàng cây đổ rạp xuống... Và một bầy phản lực “gầu gầu” xoay tròn mấy vòng, rồi khói bom cuộn lên... Đoạn đường giả vụt biến mất... Một nhà hầm chật ních người; những câu nói lúc bật căng như đá ném, khi như dòng nước êm mà không gì cắt được.
- “Ai đi thì đi! Tôi cứ ở đây thôi!”
- “Đi đâu hở các ông? Tổ tiên mình đây, mình sinh ra ở đây...”
Đôi mi mắt cứng đờ chớp chớp; mồ hôi rịn đẫm chân tóc, bò xuống hai bên thái dương... Nam lại lắc đầu: “Thôi! Không đường tránh, đường giả gì hết! May có đất mà làm đường giả, chứ trơ trọi như Cồn Cỏ thì rồi đầu hàng à?... Bà con đã mất mát nhiều rồi! Ráng mà gánh lấy! Có gay go, người ta mới chọn tổ Lao động xã-hội-chủ-nghĩa và đại đội mang cờ Nguyễn Văn Trỗi về!...”
Nam bỗng thấy mình nhẹ nhõm, mặt thoáng nét vui mừng.
Đoạn đường giả chưa kịp thành hình, có lẽ đã biến mất hẳn, nếu như Vi không bắt gặp Nam đứng một mình giữa đường ô tô. Nghe ý kiến Nam, Vi lặng đi một lát, rồi gật đầu:
- Được! Được! Phải làm ngay! Cậu là dân làng Hạ mà không thật hiểu bụng người làng Hạ. Nhất định làm được. Mới hôm qua, ông Vựng còn gặp mình “thắc mắc” sao công việc khó khăn mà không nhờ cậy gì đến dân làng. Mình tin là được. Xã lại đang vận động bà con sơ tán bớt. Còn bà Nghi thì cậu toàn nhắc chuyện “đời xưa”. Cậu không nhớ là hồi đó bà Nghi chưa vào hợp tác xã à? Thời đại này, chuyện năm bảy ngày qua, có thể là chuyện lạc hậu lắm rồi!...
Một lúc sau, về gần nhà cụ Tám, Vi đi chậm lại, nhìn Nam, và nói:
- Nam này, nếu cậu chỉ là chiến sĩ thì mình không nói đâu. Lúc này, mỗi người phải biết nhận gánh nặng tối đa phần mình, phải dám hy sinh. Nhưng cậu là người chỉ huy; suy nghĩ như cậu có khi phạm sai lầm đấy!...
Nam dừng phắt lại, ngước nhìn Vi, nhưng chưa kịp nói gì, Vi đã tiếp :
- Hẵng nghe đã! Biết bình tĩnh nghe ý kiến người khác; nhất là những điều trái ý mình cũng là tác phong mà người chỉ huy cần có... Nghĩ như cậu là máy móc; có thể nói tư tưởng cậu có chiều hướng “tả” đấy! Nếu cần thiết, và miễn là đừng quên cái mục đích cuối cùng thì đôi lúc ta vẫn cứ phải đi vòng, đi tránh. Nói gì đoạn đường giả lừa địch!...
- Em hiểu rồi! Nhưng em có nghĩ xa xôi thế đâu!
- Không xa đâu! Nó liên quan đến những chùm bom hàng ngày rơi trên đầu cậu đấy!... Cậu không nghĩ đến cũng không được. Mà cậu là đảng viên, tập nghĩ như thế cho quen; cũng như mình phải mầy mò học cho biết chút ít kỹ thuật giao thông mà làm ăn với các cậu...
Chiều đó, đảng ủy xã họp. Tối, chi bộ làng Hạ họp và sáng hôm sau, họp xã viên.
Cuộc họp bắt đầu khi những đợt gió Lào khô khốc tràn qua Trường Sơn, qua đồi thông, ùa về mỗi lúc một mạnh. Những bụi chuối lá rách xơ vật vã, thân chuối vặn mình làm lóc cả những bẹ còn xanh. Trên nhà hầm, những cây tre như gầy đi, như cứng rắn thêm trong mùa nắng mà vẫn mềm mại sà xuống, cọ vào nhau cót két mãi.
Cuộc họp không kéo dài. Trong lúc Vi rồi Vựng nói, không khí trang trọng và căng thẳng như cuộc họp của đội quân trước trận đánh gay go. Nhưng sau khi giơ tay biểu quyết trong bầu không khí càng trang trọng hơn, gần như phút tuyên thệ vậy, thì nhà hầm rộn lên; các tiếng nói cứ chồng chéo, không ai nghe được ai nữa.
- Tôi tưởng đường băng qua nhà, tôi mới đi! Đằng này chỉ vạt góc vườn, tôi không đi đâu!...
- Có chết cũng chết ở đất làng thôi! Mà nó không có bom rắc khắp đâu mà sợ.
- Này! Thế là đội Một chúng tôi không đủ công làm đất cánh đồng Eo nữa đâu.
- Nhà tôi mẹ già, con dại, tha người-không chẳng nổi, rồi bỏ đồ đoàn nhà cửa lại ư?
- Bà con cứ từ từ! Hợp tác sẽ điều công chuyển nhà, chuyển hầm giúp các gia đình liệt sĩ...
- Tôi nói trước, nếu xếp tôi ở cuối đồi là tôi không nghe đâu. Đất ấy cắm cây cột nhà cũng khó, chẳng cây cối gì sống nổi đâu!...
- Chúng tôi sẽ phân chia lại vùng đất chân đồi cho công bằng. Bà con cứ yên trí!
.....
Bà Nghi đi họp muộn. Bà ngồi ở cửa hầm. Khi biểu quyết, bà là người duy nhất không giơ tay, nên sau đó, Vựng phải hỏi :
- Chứ ý bà thế nào mà lặng lẽ vậy ?
- Còn thế nào nữa ! Anh chị em người ta xương máu không tiếc, mình tiếc gì mảnh đất cái nhà. Quý thì cũng quý thật, chắt bóp, công phu cả đời người mới làm nên, nhưng quý sao được bằng con người ta...
Bà nói thản nhiên, nhưng rồi bà khóc và bà nhìn Nam ngồi gần cửa, giọng nói nghe khổ não mà như trách móc :
- Các ông định sớm được vài ngày thì o Lý có lẽ không chết... Hay là vì tôi...
Bà cúi xuống, khóc to. Trong nhà hầm bỗng lặng đi ; cả những người đã giơ tay « xin ý kiến » cũng không muốn nói gì nữa. Một lát, bà lẩm nhẩm một mình :
- Người đâu mà quý hóa, mà phúc hậu. Nó chẳng chấp gì những điều sai trái của tôi, nó nhận con Dủm làm em, bày vẽ, chỉ bảo đủ điều. Với tôi thì một điều thưa mẹ, hai điều bẩm mẹ... Ôi ! Cái đời tôi sao có lúc luẩn quẩn ngu ngốc...
Chẳng đợi cuộc họp kết thúc, bà về. Nam nhìn theo, miệng hơi há ra, bộ mặt hốc hác nên đôi gò má cao thêm vừa lộ vẻ ngơ ngác, vừa thoáng nét ân hận. « ... Ừ mình chưa thật hiểu bụng người làng Hạ. Mà năm, bảy năm qua rồi. Biết bao nhiêu là thay đổi. Nhìn qua, thì tưởng chẳng có gì. Nhưng không có hợp tác thì dù có vận động cả năm, có đem tiền ngàn, bạc vạn cũng đừng hòng đưa được dân làng đi... »
Trong ngày đó, một việc nữa xảy ra mà Nam không ngờ : Hóa điều A6 làm đường giả. Nam biết, việc bám đường chính mới khó, chứ làm đường giả lừa địch, chỉ một buổi là xong. Chặt ít cây cối, lấp một số hào giao thông, bạt đất ở bờ hói... và tối đến, cho xe chạy đi, chạy lại vài lần. Như thế, đây chỉ là cái cớ để chuyển dần A6 về chỗ làm đá.
... « Thôi ! Thế là đêm nay, bọ đỡ thao thức... » Ý nghĩ này chỉ thoáng đến, đã biến đi. « ...Ờ, không biết bọ đã nói với ai ?... Có lẽ bọ nhờ cậu Hào rồi ! Từ hôm qua, thái độ cậu ta khác đi... Nhưng chắc rồi ai cũng cho là tại mình thôi !... » Nam thấy người nóng phừng và muốn tìm hỏi bố, hỏi cậu Hóa xem là từ đâu. Nhưng rồi công việc gấp gáp cuốn đi và đâu đó, có lời khuyên: «Rõ ngốc ! Đã ai nói gì !... »
Còn Vân, nghe ban chỉ huy nói sẽ giao nhiệm vụ mới, Vân cố lấy nét mặt nghiêm nghị, nhưng giọng lại phụng phịu như trẻ con :
- Báo cáo thủ trưởng... cứ để A6 chúng em làm ở ngầm... Hay thủ trưởng cho là chị Lý chết...
Vân nghẹn lời, phải quay đi đưa ống tay áo chùi nước mắt. Hóa nói cho Vân biết, việc làm đường giả sẽ thu hút bom đạn địch, không được tất cả, thì ít ra cũng phần nửa, để đồng đội làm ở ngầm được an toàn hơn. Vân hiểu ra đây là một việc cấp thiết, nên về dẫn chị em đi làm ngay.
Một số bà con biết đường qua vườn mình đã ra chặt chuối, bới khoai lang, khoai chuối... Bà Nghi thì hầu như chẳng để ý gì vườn tược. Bà lúi húi sắp xếp đồ đạc vào quang gánh để chuyển đi. Lúc đầu, bà khăng khăng ở lại ; Vựng nói mãi, bà mới nghe.
Ba cô gái được giao làm đoạn đường qua vườn bà Nghi, ngần ngại không dám chặt cây cối, cứ chụm lại lấp hào giao thông bên đường làng. Mãi đến lúc bà quẩy gánh ra, một cô mới lại bên bà, ấp úng :
- Thưa mẹ... chúng con...
- Thôi, mẹ biết rồi ! Khỏi phải nói. Công việc cần thế nào, các con cứ thế mà làm... Rồi bà đi, thủng thẳng, không ngoảnh lại.
Đằng sau, một cây chuối đeo buồng non đổ xuống. Tiếng thân chuối đứt kêu « oác » lên, tiếng những tàu lá đổ rạp xuống làm bà như giật mình. Một cây chuối nữa kêu « oác » lên, rồi một cây nữa... Bà đặt gánh, nhìn lại. Chỉ vậy thôi. Sau cái chết của Dủm, của Lý, như chẳng có gì làm bà đau đớn, xót xa, tiếc nuối nữa. Vả lại, tiếng cây chuối kêu lên lúc đỏ, tiếng chặt tre cốc cốc... vọng lên từ suốt một vệt đường dài qua làng, đã xóa đi nếp nghĩ riêng tư hằn sâu trong cả đời bà. Và một cảm giác rất lạ làm nét mặt đờ đẫn, với đôi mắt thâm quầng dưới vành khăn tang đè nặng trong lòng bà bỗng nhẹ hẳn. Có thể nói là bà đang sống một giây phút hạnh phúc ; bà tự hào đã đóng góp vào một công việc lớn lao, ý nghĩa.
Bà lại quẩy gánh đi. Tiếng cây đổ vọng đến nhỏ dần, nhỏ dần, nhưng bà như còn nghe những tiếng rung chuyển uy nghiêm lắm...
Nhà cụ Tám chếch về phía làng Trung nên đường giả không đi qua. Buổi trưa, cụ ngả lưng xuống chõng định nghỉ một lát, nhưng rồi cụ trăn trở mãi. Cụ không yên lòng. Bao nhiêu gia đình phải rời bỏ vườn tược, nhà cửa ra đi, mà nhà cụ thì vẫn yên ổn. Lại còn nỗi lo cho con. Lý hy sinh, cụ càng lo. Đêm qua, cụ đã thức trắng. Cứ mỗi lần nghe tiếng máy bay, cụ lại lần ra cửa hầm, nhìn phia ngầm, thầm tính chặng đường chị em con Vân chạy vào hầm và loay hoay mãi một câu hỏi: “ Có cách gì làm được hầm giữa ngầm nhỉ? ” Quá nửa đêm Hào đi làm về, thấy cụ vẫn đứng bên cửa hầm, đã phải giục cụ: “Bọ vào ngủ đi. Hơn một giờ rồi đấy cụ ạ”. Cụ cảm thấy Hào cũng đã hiểu nỗi lo lắng của mình. Vào hầm một lúc, thấy cụ còn trăn trở, thở dài, Hào lại bảo; “ Cô Vân cũng sắp về rồi bọ ạ... Mà đêm mai thì bọ khỏi lo rồi.” Thế ra làm được con đường giả thì “ Giôn-xơn” sẽ không đánh ngầm nữa sao?... Hay là... không phải... Cụ cứ nghĩ lan man cho đến sáng.
Qua một đêm trắng, nhưng trưa nay, cụ vẫn không chợp mắt được. Việc làm đường giả, sáng nay, cụ đã giơ tay biểu quyết như mọi người, nhưng nay nằm một mình nghĩ lại, cụ cứ thấy bàng hoàng... Và cụ lại như thấy cảnh bà Nghi ngồi bệt trước cửa hầm than thở. “Các ông định sớm được vài ngày thì có lẽ o Lý không chết...” Ờ, còn những cái hầm giữa ngầm nữa. Nếu làm được... Chẳng cần gì phải chắc chắn lắm. Miễn là tránh được mảnh sát thương, bom bi.
Cụ bỗng nhìn đến cái nắp đậy chum bằng con cúi rơm cuộn tròn lại. À! Có lẽ được... Cụ cũng vừa thấy thằng Hòa đan mũ rơm. Phải! Lấy rơm bện thành mảng to. Khung gỗ nhẹ nhàng thôi. Ban ngày tháo ra...
Cụ bật dậy, ngồi lặng một lúc, rồi ra cây rơm ở góc vườn rút đem vào nhà một ôm to. “Làm thử một mảng, rồi hẵng bảo thằng Nam...”
Con cúibện bằng rơm, to bằng cổ chân vươn dài ra chạm tường thì việc làm đường giả, việc chuyển làng bắt đầu. Tiếng cây chuối đổ, tiếng chặt tre cốc cốc, tiếng gọi nhau vọng đến nhà cụ không phân biệt được nữa. Nó hòa vào nhau, nhỏ thôi, nhưng cứ âm âm kỳ lạ; nó bắt cụ chú ý, nó gợi cụ nghĩ từ chuyện nhà cửa, cho đến chuyện làng nước; từ chuyện nhỏ bé gần gũi, cho đến chuyện to lớn, cao xa. Và tất cả như cũng hòa làm một. Cụ dừng tay. “Thôi! Chiều hẵng làm. Phải ra với bà con...”
Vội vàng và có lẽ vì đuổi theo những ý nghĩ đang làm xáo động lòng mình, cụ quên cả đội nón. Cụ đi theo bờ hói, rồi đi dọc đường giả. Chiếc phản lực trinh sát cánh nhọn hoắt lại từ biển xộc vào, ngông ngênh đảo ngang dọc, nghiêng nghé dòm ngó. Cụ dừng bước, ngón cái ở hai bàn chân xòe ra, bám sâu xuống đất, đôi ống chân nước da đồng hun hơi khuỳnh ra, như người đang lên tấn vậy. Cái đầu húi cua hơi ngước lên, đôi mắt già khẽ nheo lại, để lóe ra luồng sáng sắc lạnh như hôm cụ lợp sửa mái nhà. “Hừ! Dòm với ngó gì! Cho dù có dí mũi sát đất, mày cũng không hiểu được đâu!”
Dọc đường, cụ gặp Tí cùng một số dân quân đào trận địa “mười hai ly bảy” phục bọn cướp khi chúng đánh đường giả, gặp Vân đang cuốc đất lấp hào giao thông, nhưng cụ không dừng lại. Làng Hạ của cụ đang làm một việc từ cổ chí kim chưa có. Cụ bỗng nhớ lời cụ Hồ mà các lão trong tổ trồng cây thường nhắc: “Cánh ta vậy mà có phúc, được trải cơ hội ngàn năm có một...” Phải! Chưa đến lúc đứng vuốt râu ngắm nghía con cháu. Ngày ấy rồi sẽ đến. Bây giờ thì hãy dốc sức mà đánh cho thằng Mỹ chừa cái thói ngông nghênh đi, chừa cái dân này, cái đất này đi!
Cụ dừng lại bên ba cô gái đang loay hoay chặt bụi tre gai sau nhà bà Nghi. Các cô bặm môi, bặm miệng chặt, người mướt mồ hôi vì những cành tre gai đan chéo rất khó gỡ, vì lo không chặt kịp cho xe vào. Mải việc, khi cụ Tám cầm lấy con dao một cô vừa bỏ xuống để gỡ gai móc vào áo, các cô mới biết. Cụ bảo:
- Từ từ! Vội không được đâu! Để bọ chặt mấy con coi!
Cô gái tự dưng bị “tước vũ khí”, loay hoay đứng sau lưng cụ, thỉnh thoảng lại giục: “Bọ đưa con”, “bọ về nghỉ đi”... Cụ ừ ừ nhưng vẫn không ngơi tay.
Bụi tre đổ gần hết thì lưng áo cụ vắt ra được mồ hôi. Nam đi qua, nhìn bố ngạc nhiên, nhưng lại thoáng nét vui mừng. “Bọ ơi! Từ đêm nay thì bọ không còn phải lo cho con Vân nữa!” Nam chưa kịp nói gì, đã thấy cụ Tám trả vũ khí cho cô gái, lại bên Nam, nói nhỏ, có tiếng bị hơi thở át đi:
- Việc này, chúng mày giao cho tổ phụ lão thì hơn!
Nam mở to mắt nhìn bố, không còn hiểu ra sao nữa.
Trời về chiều, Vân đi kiểm tra công việc chị em trong tiểu đội, đã bắt gặp cái nhìn ngơ ngác ấy của Nam. Vân chưa kịp hỏi, cụ Tám đã hỏi Vân:
- Xong việc, tối chúng mày nghỉ à?
- Tối nay chúng con được nghỉ bọ ạ. Đêm qua, chị em thức suốt, sáng mới ngủ được vài tiếng. Mai thì lại phải trực lấp hố bom “bảo đảm giao thông” ở đường giả...
Cụ Tám nghe, vẻ lơ đễnh. Vân nói xong, cụ ừ ừ vài tiếng rồi quay về. Hai anh em đều nhìn theo cụ, rồi nhìn nhau, nhưng có ba chiến sĩ bên cạnh, chẳng tiện nói gì.
Vân đi qua rồi, Nam đứng lặng nhìn con đường giả lúc này đã thành một vệt trống cắt chéo qua làng, rồi nhìn ra ngầm. “Bọ nói phải! Việc làm đường giả, có thể nhờ dân làng... Vị trí chiến đấu của thanh niên là ở ngoài cầu, ngoài ngầm. Phải quyết bám đường chính mà đi, chứ đâu phải ở đoạn đường giả này. Thế nhưng còn việc chuyển công tác của Vân, không phải là điều bọ thầm mong ước mãi sao?...”
Hào đi làm với tổ Tiêu, dừng lại ở đầu mút đường, phía bờ hói. Đoạn đường đã thành hình, Hào đã đặt chân lên, thế mà cứ thấy nó thực thực, hư hư như trong chuyện thần thoại. Hào đã được xem đủ loại thiết kế đường qua núi cao, qua bãi lầy, qua vùng đất cát; cả những tuyến đường dây trên không và đường ngầm dưới mặt đất, nhưng chưa thấy ai thiết kế một đoạn đường qua làng như thế này. Đoạn đường thật giản dị - một vệt trống cắt chéo qua làng, nhưng không thể dùng những con tính, phép vẽ và máy móc thông thường mà làm nên được.
Gió Lào vừa lặng đi từ quá trưa, lại nổi lên và như xô dồn cả vào cái vệt trống vừa hiện ra ở một góc làng Hạ. Không còn gì ngăn trở, những đợt gió như mạnh lên, quét sát mặt đất. Những cành tre, tàu chuối đổ rạp bên đường lay lứt, lật lật như muốn đứt khỏi thân cây, chạy theo đám lá rơi và cát bụi đang bị gió lùa đi, gạt về phía hói; cả những tấm tranh vừa dở chưa kịp chuyển, cũng lật bay tung từng quãng rồi sổ tung...
Bà con ven đường giả vẫn lục tục chuyển đồ đoàn vào chân đồi. Chị em Vân đang bạt nốt ít đất ở bờ hói. Hào như muốn lảng tránh, nhưng Vân trông thấy, đã cất tiếng hỏi:
- Sao đi làm sớm thế anh Hào?
Hào lúng túng chưa kịp đáp, mấy cô đã tiếp lời, giọng nghịch ngợm:
- Anh Hào ơi! Anh đi sớm, “Giôn-xơn” nó “cắt hộ khẩu” đi, để rồi để “chị” em ở Hà Nội lại cho ai?...
- Thầy bói nói mò rồi có phải không anh Hào? “Chị” em ở làng Hạ đây chứ đâu xa!...
Hào đi dọc bờ hói, tiến ra đầu ngầm. Tiếng cười của chị em Vân như giục Hào bước nhanh hơn, nhưng tâm trí Hào vẫn còn xáo động về con đường giản dị mà kỳ lạ ở phía sau.
Gió Lào vẫn hun hút thổi dọc vệt trắng cắt chéo qua làng Hạ. Từng đợt gió tạt vào Hào, tà áo vẫy vẫy, rập rờn hình những con sóng...
IX
Tổ thợ cầu sắp đi làm. Lưu đứng ở cửa lô cốt nhìn về làng, đôi má béo xị xuống, cặp mắt có mí dày hơi đỏ đờ ra. Đột nhiên, đôi má chuyển lên, cặp mắt linh hoạt hẳn, tỏa ánh sáng tinh quái. Từ đường giả, Vân đang đi dọc bờ hói. Lưu chụm tay làm loa gọi:
- O Vân ơi!...
Nghe gọi tên mình nơi vắng vẻ, Vân hơi giật mình. Hiểu ra, Vân mỉm cười, giơ tay vẫy chào, nhưng vẫn đi nhanh ra ngầm.
Mấy ngày ngầm không bị ném bom, nước trong vắt, rõ từng viên đá. Nhanh quá, cũng mới mấy ngày, ngầm đã vươn thêm một đoạn dài. Những hàng đá ẩn dưới nước, nhưng nhìn mấy cọc nhỏ hai bên, Vân biết. Hệ thống hầm giữa ngầm cũng đã làm xong. Thanh niên xung phong chẳng tốn một công nào. Bà con trong hợp tác xã làm hộ. Những mảng rơm bện chặt, có nẹp tre chắc chắn, xếp rải hai bên đường, dọc bờ hói, điểm những khoanh vàng sẫm giữa nền cỏ xanh.
Gió Lào lặng từ quá trưa. Gió nồm mang hơi biển ùa vào mát mẻ. Sóng nước lăn tăn, phản chiếu ánh mặt trời vàng óng lung linh. Trên chiếc cọc nhỏ cao hơn mặt nước chừng gang tay cắm bên ngầm, con chim bói cá đứng lặng đón mồi. Trong nắng chiều, trong phút yên tĩnh hiếm có ở đây, con chim trông đẹp hẳn. Cái áo xanh chú chim khoác loáng bóng, vòng trắng tinh khiết ở cổ như chiếc khăn quàng nhỏ.
Vân dừng lại đầu ngầm chốc lát, rồi xắn quần lội ra một quãng ngắn. Chú chim gật gật cái đầu có chiếc mỏ dài, như chào hỏi cô gái, rồi vụt bay, đôi cánh ngắn đập nhanh, vẻ nghịch ngợm, thích thú. Những con sóng nhỏ đều đặn dồn tới, mơn man đôi bắp chân tròn trắng trẻo của Vân.
Trên lô cốt, Lưu vẫn dõi theo, mấy lần tự hỏi: “ Không có công việc, Vân ra nơi bom đạn này làm gì?” mà không sao trả lời được.
Nếu có hỏi Vân, Vân cũng khó trả lời. Đúng là Vân chẳng có việc gì cả. Mấy ngày không ra ngầm, có chút thì giờ rỗi sau khi lấp hố bom ở đường giả, Vân ra tí thôi. Vân nhớ; Vân có biết bao kỷ niệm ở đoạn đường này...
Hồi nhỏ, đã biết mấy đêm trăng, cổ quàng khăn đỏ, tung tẩy trên con đường này theo nhịp trống cổ động rộn ràng; và dù chưa hiểu biết nhiều, cũng chẳng chú ý đến những câu khẩu hiệu anh phụ trách hô, Vân vẫn rán sức hô theo, có khi như hát, như reo. Vì lẽ dể hiểu, Vân tin anh phụ trách chỉ bảo Vân làm những điều tốt đẹp.
Hai năm đầu học cấp hai, khi làng Hạ chưa có trường, mỗi ngày hai lượt, đoạn đường, nhịp cầu nhỏ này nâng bước chân Vân đến trường. Vân đi nhanh, bàn chân như chỉ lướt trên đường. Con đường rộng rãi, thẳng băng, không lầy lội, không lối rẽ, thì việc gì phải rụt rè, ngần ngại.
Và đúng hai năm về trước, Vân theo con đường này lên huyện, tập trung đi thanh niên xung phong. Lúc ấy, chưa mấy người có ba-lô. Vân xách bao gạo và đeo túi vải, chị Lài tháo chiếc quần cũ của anh Đông may cho. Xã có tám thanh niên đi, nhưng đoàn người đông lắm; bao nhiêu, Vân cũng chẳng biết. Chỉ nhớ có các anh trong Ban chấp hành Chi đoàn, chị Lài, chị Tí, bác Vựng, cái Dủm... Bố không đi tiễn, nhưng khi đứng ở cầu nhìn lại, Vân nhận ra bố bên cây dương cao trên đường vào làng. Bố mặc quần đùi, cái đầu húi cua cứng cỏi dõi về phía Vân. Thế là nước mắt Vân rưng rưng. Sợ chúng bạn biết, Vân phải vờ cúi như ngắm dòng nước dưới cầu. Vân không giấu được chị Lài. Chị bỗng giục: “ Thôi ta đi dần đi! ” Vân nhìn chị, đôi mắt đã lau khô mở to, những sợi lông mi bết lại chong lên, trông to ra, đen hơn và khỏe hơn. “ Chị lo em khóc, em nhớ bọ rồi quay lại ư? Không bao giờ chị ơi! Tự em xin đi, khó mấy em cũng đi đến cùng. Chị không nhớ chuyện Bác Hồ tập leo núi sau trận ốm để mau lại sức, đi tiếp trên con đường cách mạng, em đã đọc chị nghe sao? Chị không nhớ anh Nam vừa kể em nghe, mẹ đã đi trên con đường này lên huyện giành chính quyền năm 1945; và dù lô cốt địch cắm bên cầu giương mắt xoi mói, đe dọa, mẹ đã bao lần bỏ truyền đơn vào giỏ đi qua, để thêm nhiều người sớm có hạnh phúc bước vào con đường cách mạng ư? Và anh Đông còn đi xa, còn chịu gian khổ bằng mấy em kia. Mà nếu em quay lại, bọ cũng xua đi. Em biết, bọ thương em nhưng chẳng thương hạng người trốn trách nhiệm, lẩn ở nhà đâu...”
Gần hơn, chính ở đây, Vân cùng chị em A6 đã được xếp những viên đá đầu tiên của công trình. Cũng ở đây, chị Lý vừa ngã xuống. “... Em cố gắng lên... Chi bộ đã xét em...”
Và hôm qua, đồng chí liên lạc từ công trường 27 về, đem cho anh Nam chai mật ong và cho đại đội 19 gói thư, báo to bằng chiếc ba-lô. Quá nửa chiến sĩ trong đại đội có thư. Chị Lý có hai cái. Một lá của đứa em gái, còn một lá thư anh Viên; những dòng chữ mực xanh trên phong bì qua thời gian, mưa gió đã nhòe. Nâng hai lá thư, Vân không sao cầm nước mắt. Gần ba năm mỏi mắt chờ, giờ thư đến, chị chẳng còn nữa! Người ta thường bảo, đó là thư không người nhận. Nhưng ở đây, cả A6, cả đại đội 19 nhận hai bức thư đó. Vân thay mặt chị em A6 viết thư gửi em gái Lý và viết gửi anh Viên lời hứa danh dự của những đứa em, những chiến sĩ thanh niên xung phong: “ dù có phải hy sinh tính mạng, chúng em cũng không ngại ngần, quyết giữ vững mạch máu Tổ quốc, để tiếp sức đầy đủ cho anh, cho tiền tuyến đánh bại giặc Mỹ...”
Tất cả đều gọi Vân ra chỗ đầu ngầm này. Thế mà anh Hóa cứ bắt xa rời nó. Đã đành làm ở đâu cũng nhiệm vụ. Sản xuất đá, làm đường giả, cũng để những đoàn xe bám tuyến chính mà đi. Và ở đường giả, hai ngày đầu cũng vất vả với thằng địch. Chúng bị lừa, trận bom này làm hỏng đường chưa sửa xong, chúng đã đánh đợt khác. Chị em mấy lần suýt “bị” với chúng. May là đường qua làng, nhiều hào giao thông và hầm chéo chắc chắn. Và thật vui, nhất là ngày trung đội dân quân chị Tí bắn cháy một “Thần Sấm”. Hắn chủ quan, một lần, hai lần, lần thứ ba bò sát xuống, trông rõ chữ số, màu sơn, cả nắp buồng thằng giặc lái. Ba khẩu mười hai ly bảy bắn đồng loạt. Chiếc “ Thần Sấm” phụt lửa và sập ở làng Đông. Thằng cướp cháy đen trong máy bay. Cũng như dân làng, Vân hả hê, tót lên miệng hầm, nhảy cẫng reo hét lạc cả giọng; trong phút chốc như quên cả mọi việc. Nhưng rồi đêm đêm, tiếng gọi từ cầu ngầm vọng cả trong những giấc mơ...
Bỗng có tiếng máy bay. Hai vệt xám cao tít, vật vờ, dường như chúng đã thấy mệt mỏi, chán nản. Vân đi lên lô cốt. Tệ quá, từ buổi kết nghĩa đến nay, Vân chưa trở lại thăm tổ cầu lần nào.
Trước cửa lô cốt, Lưu vẫn đứng lặng chờ Vân. Bắt gặp cái nhìn lạ lùng khó hiểu của Lưu, Vân thoáng thấy ngượng và như hoảng sợ nữa, vội hỏi:
- Anh Tiêu có nhà không anh?
Lưu cười, đôi má phính rung lên, hàm răng to nhăn nhở:
- Mấy khi “thủ trưởng” lên thăm anh em. Mà sao “thủ trưởng” chỉ hỏi anh Tiêu?
Cặp mắt Lưu sáng tinh quái, nhìn Vân vồ vập. Vân bước nhanh vào lô cốt. Mấy chàng đang nằm nghỉ, vụt ngồi dậy. Tiêu kéo sửa tấm bạt, ngồi sát vào tường, che chiếc áo vá dở.
- Ngồi chơi o. Bọn tôi luộm thuộm lắm phải không? Gọn gàng, ngăn nắp thì chịu thua thanh niên xung phong thôi!
Vân ngồi ghé một đầu tấm bạt, miệng cười tủm tỉm, má đỏ dậy:
- Bọn em đang lo thua các anh thì có!
- O lại chế bọn tôi rồi!
Vệ ngồi bên Tiêu, vừa cười vừa nói vậy.
Thực ra, từ sau ngày kết nghĩa thi đua, trong lô cốt khác hẳn. Những tấm ván cầu lót nằm được kê lại ngay ngắn; màn thẳng căng, vắt gọn; bát đũa xếp rành rẽ từng đôi... Ở bức tường đối diện cửa lô cốt, một khẩu hiệu chữ đỏ trên nền xám xi măng: “Tổ ta quyết làm cốt thép của trụ cầu để cho cầu vững chắc nối liền hậu phương với tiền tuyến.” Dưới đó, tờ báo tường “Quyết thắng”, dán chật những mảnh giấy đủ màu, đủ cỡ...
Vân đưa mắt nhìn quanh và dừng lại ống tay áo thòi ra sau lưng Tiêu. Vân lại tủm tỉm cười nói:
- Em có phải khách khứa gì đâu mà anh cứ... Đưa em xem anh vá cái gì nào?
Tiêu lắc đầu, bộ mặt tròn đỏ cháy:
- Không không! Tôi vá sắp xong rồi!
- Em không tranh việc đâu! Em xem tí thôi mà!
- Việc vàn gì... O xem rồi o lại cười cho.
Tiêu đang lúng túng “đối phó” với Vân phía trước, chẳng ngờ Vệ “đánh bọc hậu” lấy áo tung cho Vân. Tiêu giật mình, chồm bắt, nhưng không kịp; chỉ còn biết đấm vào vai Vệ thôi.
Vân trải chiếc áo xanh đã bạc lên hai đầu gối. Miếng vá ở vai. Thoạt nhìn, Vân hình dung những đận chỉ đen to, dài và miếng vá nhăn nhún. (Người ta thường nói: “Con gái vá vai...” mà!) nhưng Vân phải trố mắt nhìn. Miếng vải vá ôm sát vai áo, đường chỉ nhỏ, đều đặn. Bất chợt, Vân ngước nhìn Tiêu, nhìn đôi tay có những ngón ngắn, hơi xù xì và sạm nắng. Việc đó đến tự nhiên, như ngoài ý định của Vân nữa. Vân bỗng thấy ngượng, vội cúi xuống và chẳng biết làm gì hơn, khâu nốt miếng vá cho Tiêu.
Như cố làm Vân ngượng thêm, Lưu nói:
- “Thủ trưởng” thương anh Tiêu thì vá, chứ anh ấy còn vá quần áo cho chúng tôi đấy!
- Anh cứ nói... Thì em có thấy anh nào...
- Thế của tôi “thủ trưởng” có vá không?
- Sao lại không?... Các anh có quần áo rách, cứ đưa ra, em nhờ mỗi chị em một cái, chỉ ngày mai là xong.
Tưởng Lưu đùa, nhưng Lưu đã lấy ra một bộ. Vân đưa mắt nhìn mấy anh trong lô cốt giục:
- Anh có không? Lấy đi. Kết nghĩa mà không giúp các anh được việc nhỏ này à?...
Vân trở về làng lúc anh em thợ ra cầu. Trước cửa lô cốt, Tiêu không nhìn Vân, hỏi nhỏ:
- A6 không làm ở ngầm nữa à, o Vân?
- Em cũng chẳng biết...
- Thôi o về nhé!
Tiêu đi, như vội vàng, như là Tiêu ngại không muốn đứng lâu bên cô gái trẻ.
Lưu ra sau, xin lại bó quần áo “xem có gì quên trong túi không”. Đồng đội xuống khỏi dốc, Lưu mới trao bó quần áo cho Vân và lại nhìn Vân nóng bỏng, vồ vập, giọng nói cười cợt:
- O vá cho chúng tôi cũng vì anh Tiêu thôi. Thương anh Tiêu còng lưng vá cho chúng tôi mà!
- Em không đồng ý anh nói thế đâu!
- Gớm! Nghiêm thế. Đùa tí, nhưng o không bằng lòng thì thôi.
Bỗng Lưu nói nhỏ, như là nói thầm:
- Nghe nói chỗ làm đá thiếu người sửa choòng phải không? Tôi biết rèn... O nói hộ với anh Nam...Thôi, tôi đi.
Nói chưa trọn ý, Lưu đã đi. Vân nhìn phía ngầm, nên không biết Hào đã đứng sau lưng.
- Cô Vân đi đâu thế?
- Không, em đi chơi tí. Anh ra làm đấy à... Thôi, em phải về, không ở nhà chờ cơm, chúng nó chửi chết.
Vân đi, vội vã, đầu hơi cúi, bó quần áo bên hông làm người nghiêng đi. Hào nhìn theo, như có ý chờ Vân ngoảnh lại. Nhưng Vân cắm cúi đi một mạch về làng. “...Cả tổ anh Tiêu, cả anh Hào đều ra cầu ngầm. Chỉ mình đi ngược lại... Vì bọ thôi. Bọ nói anh Nam chuyển công tác của con chứ gì?... Anh chàng Lưu thế mà ra một thằng hèn! Khổ thân mình!... Anh chàng cho mình là người một duộc... Anh Tiêu nói gì nhỉ? Không biết anh có nghĩ về mình như anh chàng Lưu không?...”
X
Trời chưa tối, hai “Con Ma” Mỹ đen thui đã làm bẩn nền trời sau đường viền đỉnh Trường Sơn đang xòe rẽ quạt màu xanh lơ, lẫn màu hồng nhạt. Như mất trí, chúng bật vội sáu cái pháo sáng. Bị ánh mặt trời hắt vào, sáu cái đuôi khói run rẩy thành màu nhọ nồi, đến là bẩn thỉu. Ông trời như cũng giận dữ, khép vội chiếc quạt đẹp đẽ và tung dần tấm màn đen trùm lên bọn cướp.
Nhưng trên bầu trời làng Hạ lại vắng máy bay. Chỉ một lần, đang giữa nhịp đóng cọc, Lưu bỗng kêu lên:
- Pháo sáng rồi!
Anh em vừa dừng tay nâng vồ, Lưu đã nhận ra mình lầm và mất bình tĩnh. Lưu chỉ vành trăng đầu tháng sắp lặn phía đồi thông, giọng cười cợt, như cố ý đùa cho vui:
- Đó! Không thấy à?
- Đồ quỷ! - Mắt mày quáng gà rồi! - Mày mê đấy à, Lưu Xị!...
Tiếng lên án Lưu rộ lên, nhưng giọng chẳng lấy gì làm nghiêm, có khi còn chút đùa cợt nữa. Vệ không nói gì, chỉ lừ mắt nhìn Lưu. Lưu đã cắt mất dòng suy nghĩ., tưởng tượng rất thú vị, rất thơ nữa của Vệ... Một bầu trời đầy sao... Trăng sắp lặn, vành cong vàng nhạt tỏa một vòng sáng xung quanh, như ai vừa treo chiếc mâm đồng, ở giữa là miếng đu đủ chín... Trăng xuống nhanh trông thấy (hay có anh chàng nào đứng trên đỉnh Trường Sơn đen thẫm kia đưa tay kéo xuống?) Vành trăng nghiêng, trước khi tạm biệt bầu trời đầy sao, nhô lên từ đỉnh núi một cái chỏm, trông như ngọn đuốc nhìn từ xa, cũng hơi giống búp măng tre...
Trăng lặn một lúc, anh em thợ về nghỉ. Thêm ba cột cầu cắm xuống lòng hói. Đó là năng suất cao nhất từ đầu công trình đến nay. Tiếng Vệ nghe trong trẻo, hồn nhiên:
- Ra ngõ gặp gái thế mà may anh Tiêu nhỉ?
Tiêu chưa kịp nói, một người đã tiếp:
- Gái thanh niên xung phong “ba khoan” thì cũng như con trai thôi!
- Nhảm nhí cả! Tớ thì bảo chúng nó cũng sa lầy như ở miền Nam rồi. Máy bay đâu mà đánh cho khắp.
Lại tiếng trong trẻo của Vệ:
- Tình hình này chỉ dăm hôm nữa là đóng xong cọc thôi anh Tiêu nhỉ?
- Ừ... cùng còn tùy... Đến lúc này, Tiêu mới góp được một tiếng.
Thường ngày, những lúc tán chuyện, Tiêu vẫn kém bạn bè, giọng nói cũng nhỏ hơn. Đêm nay, còn vì Tiêu thoáng một mối lo. Chúng chưa chịu thua đâu. Có thể chúng sắp đổi cách đánh... Còn bốn vì cầu, vị chi là hai mươi bốn cột...
Những nỗi lo như thế đến luôn và thường dẫn Tiêu nghĩ ra những ý kiến mới, những “mẹo vặt” vượt khó khăn. Nó làm Tiêu say mê và dù có lúc mất ngủ, hoặc nhăn nhó, nó vẫn là nguồn hạnh phúc. Cũng như nỗi lo và những đêm mất ngủ của người mẹ vì đứa con. Tiêu không sao hình dung được là nếu thiếu những nỗi lo ấy, Tiêu sẽ sống như thế nào...
...Gần sáng, Tiêu lại dẫn đồng đội ra làm. Trời vẫn đầy sao. Những vì sao mùa hè thức không mỏi, sáng suốt đêm. Trong ánh sáng đục nhờ, con hói hiện thành một vệt xám, như xa hơn và quãng làm ngầm không thấy được bờ bên kia, trông càng mênh mông.
Tiêu bỗng cảm thấy trống trải và như thiếu một cái gì? Thiếu tiếng máy bay, bom đạn à? Không, điều ấy ai lại mong! Thiếu các chiến sĩ thanh niên xung phong à? Không, họ vẫn đang xếp đá giữa ngầm. còn nghe tiếng đá va nhau đôm đốp, tiếng nước té toách toách, tiếng chân lội nước loạc roạc và tiếng cười nói râm ran vọng vào bờ. À ... Phải rồi, thiếu chị em A6, thiếu Vân! Đã vắng mấy hôm rồi, nhưng sáng nay, sao mà nhớ! “ Thôi! Cố mà quên đi!” Lý trí lại nhắc nhở, nhưng bàn tay Tiêu bỗng đưa lên sờ vai áo. Nơi ấy, chiều qua Vân đã luồn những đường kim... Nơi ấy, bây giờ đang chuyển khắp cơ thể Tiêu một cảm giác tê tê thật là khó tả, mà cũng thật dễ chịu...
Anh em Tiêu sắp lên thuyền con ra cầu thì nghe tiếng lội nước loạc xoạc ngày một rõ và ba bóng người hiện ra cũng rõ dần.
- Cậu Tiêu đấy à?
- Vâng! Anh Nam phải không?
Tiêu cũng đã nhận ra hai người đi sau. Hào cao lênh khênh; Vi, thấp hơn, hai tay giữ ống quần, bước đi dò dẫm vì chưa quen lội ngầm.
Việc ba cán bộ cùng hiện ra làm anh em thợ ngạc nhiên. Hẳn có việc quan trọng. Và anh Hào thì ít khi ra ngầm giữa đêm khuya như thế này...
... Khoảng ba giờ sáng, chuông điện thoại réo. Cụ Tám lay gọi, Hào giật mình, ngồi dậy vội vàng, đầu va cột hầm đánh “đốp”.
- A lô, K5 đây! Ai gọi đấy?... Hừ! “35”, sao lại gọi ra đây!... Vâng, đồng chí xin lại tổng đài...
Tưởng việc khẩn, hóa ra một anh chàng xin “35”, lại cắm nhầm máy K5! Hào gắt lên, chỗ trán va vào cột bỗng đau nhói, phải đưa tay xoa. Nhưng người ta xin lỗi và nói cho Hào biết, họ đi đón xe Hà Nội vào, nhưng không biết xe lạc vào đường tránh nào mất rồi! Hào chợt thấy mình mới chính là người có lỗi, giọng nói nhũn hẳn.
Thế là Hào tỉnh ngủ. Không phải vì va trán vào cột; chỗ ấy đã hơi sưng, nhưng Hào quên lãng. Hào tưởng đến những người mỏi mắt chờ xe quanh chiếc hầm tròn nông choèn bên đường, thấp thỏm lo máy bay rải bom bi, “tọa độ”. Trong khi đó, chiếc xe luẩn quẩn, lội đi lội lại trên đường tránh xấu kinh khủng và lắm lối rẽ ở nông trường Q. Thật là một con đường tai hại! Nửa năm trước, Hào đi xe con cùng đồng chí Trưởng Ty, cũng đã lạc ở đó. Loanh quanh gần hết đêm, tìm được lối ra đường chính, vừa hết xăng!...
Phải! Bí lắm hãy dùng đường tránh. Bám được con đường chính mà đi thì tốt biết bao!
Trong đêm yên tĩnh, từng tiếng vang lên rành rọt trong Hào.
Hào ngồi bật dậy, ra khỏi hầm. Có tiếng ô tô rì rầm ngoài đường. Hào lần ra. Lại cảnh xe đi lạc. Ba chiếc mô-nô từ tiền tuyến ra, không thấy chắn đường, đã phóng về làng Hạ. (Chắc là vì chiếc xe đi lấy xăng hồi đêm, quên đặt lại cây gỗ chắn đường).
Tốp chiến sĩ đi bốc đá về đang vây quanh chiếc xe đi đầu. Đồng chí lái xe ló đầu ra ở khung cửa, nói như hét, giọng khản đặc:
- Sao lại ách người ta thế này? Sáng đến nơi rồi!
- Thì chúng tôi đã nói đường chưa sửa xong mà!
Đồng chí lái xe mở cửa, nhảy xuống. Mấy chiến sĩ đứng gần đang xì xào bàn tán về cái “nết bướng” của “anh tài”, bỗng lùi ra và nín bặt. Anh mặc quần đùi, một vòng băng to phía trên đầu gối.
- Chưa xong sao lại bỏ về? Lại mấy quả bom nổ chậm! Lại để “bảo đảm an toàn” chứ gì!
Chẳng muốn ai để ý, Hào đứng lặng phía sau, nhưng Tín đã gọi:
- Anh Hào! Anh lại nói với đồng chí lái xe hộ bọn em tí.
Hào bước lại bên cánh cửa xe. Hơi nóng hầm hập trong buồng máy nồng mùi xăng lẫn mùi mồ hôi phả vào mặt Hào. Trong người Hào cũng mỗi lúc mỗi nóng phừng, nhưng giọng nói thì ỉu xìu, lúng túng như người có tội.
Hiểu chuyện, đồng chí lái xe vỗ vai Hào, nói vui vẻ:
- Người anh em đừng giận nhé! Cánh tớ đang điên người vì vừa mất toi một giờ ở ngầm Rào. Tay gác đường không cho đi, bảo còn bom nổ chậm! Cánh tớ, bom đang nổ cũng phải phóng ào đi, nữa là bom nổ chậm...
Hào cúi nhìn vòng băng ở chân, hỏi nhỏ:
- Thế anh vượt, bom nổ bị thương à?
Quen nói trong tiếng máy ồn ào, giọng khản đặc vẫn rán to, nhưng nghe thoảng tiếng cười:
- Không phải! Mấy thằng “Giôn” câm tịt, chứ có ho he gì đâu! Đây bị hôm kia. Đạn hai mươi ly xoẹt qua thôi, nhưng băng to ra để về dọa u nó... Đồng chí cũng người khu Ba à?... Tớ dân Thái Bình đây!...
Vượt chặng đường căng thẳng, lại không có ai chuyện trò, nay đứng trước tốp “thính giả” trẻ trung, đồng chí lái xe cứ muốn nói mãi.
Biết quay lại đi đường tránh không kịp tìm chỗ giấu xe trước lúc trời sáng, Hào đành phải chỉ lối cho xe vào nghỉ lại.
Một chân đã đặt trên bậc lên xuống, đồng chí lái xe còn ngoảnh nói với Hào:
- À... nhưng người anh em này, liệu đến lúc cánh tớ quay vào, đã phóng theo đường này được chưa?...
Hai chiếc xe phía sau bóp còi giục; tiếng cánh cửa sập mạnh, tiếng rú ga...
Đứng nép bên đường, nhìn ba chiếc xe loay hoay thụt lui, nhích tới để quay đầu, Hào khẽ cắn môi, nhưng ngón tay thon dài nhàn rỗi cứ uốn vặn, duỗi ra, bóp vào, trong lòng cuộn lên một nỗi băn khoăn, một câu hỏi buộc Hào trả lời. Những chiếc xe muốn đi con đường này, đòi được đi con đường này!
Hào ra đ?


