Logo Footer
Lorem Ipsum
Website title
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình. Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non. Cao Lao tiền thế đặt tên. Cao trông vời vợi, Lao bền không xiêu

Đường qua Làng Hạ (phần 5)

Tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Phê

 

 

Một giờ sáng, chiếc đồng hồ báo thức ở góc hầm vợ chồng Nam rung chuông. Đêm vắng, trong căn hầm chật hẹp, tiếng chuông lánh lỏi làm người ngủ giật mình hơn cả tiếng bom nổ. Tiếng bom, như đã quen rồi.

      Nam sực tỉnh, vội đưa tay hãm, may ra giữ yên được giấc ngủ cho Lài, nhưng lại bắt gặp bàn tay nóng hổi của Lài trên đồng hồ. Lài thì những mong Nam chưa thức giấc, để anh ngủ thêm được phút nào hay phút ấy. Chín giờ tối, anh mới ở ngầm về ngủ. Tính anh, Lài biết, có khi tưởng đi chậm, mà vẫn đến trước người ta.

      Lài vẫn để yên bàn tay mình trong tay chồng. Bỗng Nam khẽ bóp bàn tay Lài, và nói, rất nhỏ :

      - Thôi ! Để anh đi...

      Lài trở bàn tay, mân mê những ngón tay to ráp của chồng :

      - Mới một giờ. Tổ anh Tiêu đã ra làm đâu...

      - Sao em biết ?

      - Hôm qua, hơn ba giờ em mới ngghe tiếng hò đóng cọc.

      Nam lại khẽ bóp bàn tay Lài. « Ôi ! Thì ra đêm nào Lài cũng thức dõi theo... »

      - Nhưng hôm nay ngầm xếp đến đoạn sâu lắm. Anh phải ra xem...

      - Anh cứ làm như không có anh thì công việc hỏng hết ấy.

      Nam quay người, choàng tay lên vai vợ, giọng nói nghe thoảng tiếng cười :

      - Anh còn đang choáng váng với những lời phê phán của cô Vân, em lại phê bình anh nữa đấy à ?

      - Ừ... Giọng Lài cũng ẩn một tiếng cười cố nén.

      Lát sau, Nam hỏi :

      - Em đi khám, họ bảo ngày nào sinh ?

      Giọng Lài vẫn thấp thoáng nụ cười kín đáo :

      - Cần gì ai bảo !... Chắc vài ngày nữa thôi anh ạ. Mấy hôm nay nó đạp luôn.

      Nam đặt tay lên cánh áo vợ, nói trong tiếng cười nhỏ :

      - ... Thế chân nó đâu ?... Có thấy đâu nào ?

      Lài lại nắm bàn tay chồng :

      - Đừng anh !... Vài hôm nữa thì anh sẽ thấy.

      Lặng lẽ. Nam chợt nhận ra tiếng thở nặng nhọc của Lài và cảm thấy rất rõ dưới bàn tay to kềnh của mình, một mầm sống rất khỏe đang phập phồng vươn dậy. Không ! Ngay bây giờ, Nam đã thấy nó, đã ôm chặt nó trong bàn tay mình rồi !...

      Nam áp khuôn mặt nóng rực của mình vào bên má đầy đặn của Lài rồi ngồi dậy :

      - Thôi, anh đi...

      - Em có dám giữ anh đâu. Giữ anh, lỡ hỏng việc, rồi anh lại bảo vì con Lài...

      Nam đứng lặng một lát trước cửa hầm. Trăng đã lặn, chỉ có những vì sao tỏa ánh sáng mờ. Trời về khuya đã mát, Nam cảm thấy mình tỉnh táo, khỏe khoắn, háo hức  muốn hoạt động, mà lại ung dung, chẳng chút vội vàng.

      Thong thả, Nam đi ra ngõ, nhưng đến giữa sân dừng lại và rẽ sang hầm cụ Tám. Nam thấy Hào ngồi trên thanh gỗ gác ngang cửa hầm; cái lưng dài uốn thành một mái nghiêng cong cong, đầu gục lên đôi cánh tay xếp chéo trên đầu gối, vòng băng khoanh một vệt trắng nhỏ ở bắp chân. Nam cũng có lần ngủ quên như thế. Nóng quá, nằm trong hầm một lát mà người  đẫm mồ hôi và như sắp ngạt thở. Vắt màn lên, thì bầy muỗi đáng ghét bị cụ Tám hun khói xua ra từ đầu hôm, không biết đã luồn vào lúc nào, cứ vo ve vo ve đến tức! Thế là lại bỏ màn xuống, nhưng rồi không chịu được, phải lần ra cửa hầm ngồi.

      Sợ Hào giật mình bị ngã, Nam bước nhẹ chân, ngồi khẽ xuống bên Hào và đặt bàn tay to kềnh lên cái vai gầy mỏng của bạn, giọng dịu dàng, từ tốn:

      - Hào ơi! Vào hầm mà ngủ, trời mát rồi.

      - Ờ... Tôi ngủ quên... Trong hầm nóng quá anh ạ.

      Nghe giọng có chút ngượng ngùng mà chân thật của Hào, một mạch tình cảm bình thường mà mới mẻ như dòng điện chạy lan khắp cơ thể làm Nam xao xuyến. Ờ... ở bên nhau đã bao ngày, vậy mà hôm nay Nam mới chợt nghĩ đến cảnh sống xa quê hương của Hào. Ừ, phải có lòng dũng cảm và nghị lực mới dám xa gia đình, thành phố đến đây. Biết bao nhiêu thứ phải gác bỏ, phải tạm quên... Cốc bia hơi, tối kịch ở Nhà hát lớn, buổi dạo xem cửa hàng sách ngoại văn, chiếc quạt máy đầu giường ngủ... và có thể cả những buổi tối bên người yêu trên ghế đá hồ Tây... Ở đây, Hào không có một người cùng quê, nói gì người thân trong gia đình. Đáng lẽ, phải đem tình thương yêu đồng chí, đồng đội bù đắp, ấp ủ...

      Đôi bạn cứ ngồi lặng bên nhau, bàn tay Nam vẫn để trên vai Hào. Bỗng Nam cảm thấy trong lòng bàn tay mình cái vai gầy của bạn như đang run lên. Và Hào nói, giọng lắng lại, tiếng nói từ nỗi lòng xúc động sâu xa:

      - Anh Nam ạ..., không biết anh nghĩ về tôi như thế nào...

      Như giật mình, Nam rụt bàn tay lại. Một lát, hiểu tâm trạng Hào, Nam bảo:

      - Thôi, nhắc chuyện cũ làm gì. Mình hiểu cậu...

      - Không! Phải nhắc lại anh ạ... Mà anh chưa thật hiểu tôi đâu. Trong cái đêm địch đánh đầu tiên, trong khi cậu Tiêu rút thợ chặt gỗ, anh có biết tôi nghĩ thế nào không?... Tôi thích thú, tôi khoái trá! Thật là hèn, thật nhục... Không nói được với anh, rồi ân hận suốt đời...

      Nam đã mấy lận định ngắt lời và bảo: “ Thôi, đừng nhắc chuyện cũ nữa. Mà cậu cứ nói quá đi”. Nhưng Hào dừng lời, Nam lại ngồi im. Một lát, Hào nói tiếp:

      - Anh Nam, anh nói thật đi! Anh còn giận, còn ghét tôi nữa không?

      - Không! Bây giờ thì mình yêu,...Càng yêu cậu!

      Nam hơi nghiêng người và như ôm lấy người bạn trong cánh tay cứng cáp của mình.

      - Cậu hỏi, mình phải nói... Đến ngộ!

      Giọng Nam lại nghe thoảng tiếng cười. Dừng một lát. Nam bỗng hỏi:

      - À... Cậu để cuốn “Kỹ sư Lô-ba-nốp” đâu rồi?

      - Anh xem à? Hào không trả lời, quay người hỏi, hơi ngạc nhiên.

      - Mình xem gần hết rồi. Cậu không biết à? Mấy bữa Giôn-xơn quấy, không ngủ được. Mình xem để mà ngủ lại, rồi mê. Mê mà tỉnh...

      - Cậu Tín mới mượn. Để tôi lấy lại cho anh xem nốt.

      -... Cậu còn nhớ đoạn tay Lô-ba-nốp nói chuyện với các bạn đồng nghiệp không?...Hãy làm việc mà không than vãn khi vinh quang thuộc về người khác... Hãy vẽ ngàn lần một đường cong mà lần nào cũng phấn khởi như lúc đầu...Mình đọc đoạn ấy đến mấy lần. Nhưng rồi mình nghĩ, vẽ một đường cong thì đố ai ngồi vẽ được trăm lần mà vẫn phấn khởi. Đằng sau, hay đầu mút con đường ấy phải có cái gì khác...Đúng, phải có lý tưởng; cái đường cong ấy là một cách thực hiện lý tưởng thì được. Mà đã vì lý tưởng thì sao vinh quang lại thuộc về người khác? Theo cậu thì vinh quang là thế nào?

      Hào không ngờ câu chuyện xoay chuyển đột ngột và Nam lại hỏi đột ngột như thế; câu hỏi cũng thật “hóc búa” nên Hào đành thú thực:

      - ... Tôi cũng chưa nghĩ đến...nhưng... cũng tùy người.

      - Mình thì cho là đã chiến đấu cho lý tưởng thì vinh quang dứt khoát về mình, vì bản thân việc làm đó là vinh quang rồi. Nói “về tay người khác” thì hóa ra bằng khen, tiền thưởng, được nêu tên trên báo...mới là vinh quang à?

      - Anh cũng mê tiểu thuyết thế cơ à?

      - Mình có mấy khi đọc. Nhưng nay thì thấy thế là dại. Đọc “Lô-ba-nốp” mình thấy hốt. Tính toán gì quên sạch rồi.

      - Sao anh không xin đi học thêm?

      - Mình cũng đã xin hai lần. Một lần thì các ông ấy khất, lần khác thì bảo mình là đảng viên, lúc này đang cần ở lại công tác. Thế là hết đường nói. Nhưng chuyến này về Ty mình sẽ xin. Chính vì mình là đảng viên, nên càng phải lo học hành. Nếu mình có trình độ như tay Lô-ba-nốp biết đâu mình đã nghĩ ra được môt cái búa nhỏ, thay cho cái vồ sáu người bê của tổ cậu Tiêu...

      Nam đứng dậy, nhưng vẫn nói tiếp:

      - Thôi mình đi! Tán chuyện vớ vẫn làm mất giấc ngủ của cậu...Lô-ba-nốp có gan vẽ ngàn lần một đường cong; chúng mình há lại không đủ kiên trì quần nhau với thằng Mỹ xếp hàng vạn viên đá nối lại con đường thẳng này à?

      Đi mấy bước, Nam còn ngoảnh lại nói:

      - Nhưng chuyện Lô-ba-nốp nhăng nhít với cô Ri-ta thì bậy quá! Không học tập được. Thôi, cậu vào ngủ đi.

      Chẳng nhìn rõ nét mặt, nhưng chắc là Nam đang cười. Hào không ngờ anh chàng Nam lại có lúc “tình cảm” như thế. Nhưng vẫn là cái “kiểu” của Nam, Hào không theo kịp, và cứ cảm thấy mình lúng túng, bị động. Vậy mà Hào nhìn theo Nam, cứ mong Nam ngồi lại... Hào sẽ nói... Không, có gì mà nói. Nhưng biết đâu Nam sẽ nhắc đến Vân... Biết đâu. Ờ! Vớ vẩn!...

      Đêm vắng. Chỉ có trời sao nhấp nháy nhìn Hào, nhưng Hào vẫn thấy ngường ngượng, người nóng ran...

*

*   *

      Vân cùng chị em A6 đã được trở lại ngầm. Không phải Hóa chỉ biết nghe cụ Tám và ý muốn của Vân. Đã đến lúc phải đưa lực lượng nòng cốt, phải phất cao cờ Nguyễn Văn Trỗi ở trận địa cầu ngầm. Cũng như khi chuyển Vân về sau, phần nghe lời Hào nghĩ đến cụ Tám, phần muốn A6 được làm ngày một thời gian, lấy lại sức mà tiếp tục chiến đấu.

      Giờ thanh niên xung phong về nghỉ và tổ thợ cầu đi làm là giờ rộn nhất trong ngày ở đầu ngầm. Tiếng chào hỏi, đùa cợt, cứ nối nhau, chồng chéo lên nhau.

      - Ngủ quên hay sao mà ra muộn thế các anh ơi!

      - Ra sớm, chỉ lo cầu xong trước, để các em ở lại xếp ngầm một mình buồn thôi!

      - Này A6 ơi! Mới làm một đêm mà sao về sớm thế?

      Vào lúc ấy, tiếng Vân vút lên:

      - Đúng là các anh mơ ngủ rồi! Người ta làm quá một tiếng rồi! Tổ xe họ nghỉ, chứ không làm đến sáng cũng được.

      - Này o Vân ơi! Muốn làm đến sáng, lên đây tôi nhường việc gác máy bay cho!

      Tiếng nói trong trẻo của Vệ từ lô cốt vọng xuống. Vệ còn yếu, Tiêu giao việc gác máy bay, đang háo hức ra cầu. Thế là Vân tung tăng chạy lên lô cốt.

      - Được! Tôi gác cho... À, nhưng anh Tiêu ơi! Anh có đồng ý không?

      Vân chạy vài bước, chợt dừng lại hỏi vậy. Tiêu chưa kịp trả lời, đã nghe một cậu thanh niên xung phong:

      - Đồng ý đi anh Tiêu ơi! O Vân có đôi mắt tinh nhất C chúng tôi đấy!

      Một chàng khác đế theo, táo tợn hơn:

      - Nào, có đồng ý, chúng tôi gả o Vân cho anh Tiêu ơi!

      Tưởng đùa cho vui, chứ nói nhảm thế, Vân đành chịu thua. Vân tượt nhanh xuống đường, nhập đoàn với chị em trong tiểu đội.

      Trời chưa sáng, chỉ có ánh sáng mờ mờ của những vì sao rọi xuống, nhưng Nam vẫn như thấy rất rõ bóng dáng cô em gái... Đôi mắt to, trong suốt long lanh như có bóng hai vì sao xa. Chiếc mũ nhựa lấp loáng phơ phất những mẩu vải dù ngụy trang; mái tóc đen nhánh cặp gọn rập rờn trên lưng áo. Hai ống quần ướt quá đầu gối sẫm lại... Và giữa khung cảnh ồn ào này, Nam như bỗng nghe tiếng Lài: “... làm như không có anh thì công việc hỏng hết ấy!...”

      -“... Ừ, đâu phải chỉ có mình... Sao mình lại cứ nghĩ con Vân chỉ là một cô gái bé bỏng? Vân nó nói đúng. Mình không nói với Hóa chuyển công tác cho nó vì nghĩ đến trách nhiệm và danh dự của mình. Đúng ra, trước hết, phải nghĩ đến trách nhiệm và danh dự của Vân... Mình đã đánh giá sai tất cả. Với Lài, Hào, cả với bà Nghi, với bọ nữa... Vậy ra mình tự kiêu chăng?... Chà! Cuộc sống như dòng thác cuộn, như một cơn lốc dữ dội... Đâu chỉ riêng mình...”

      Tốp thanh niên xung phong đã đi xa, chẳng nhìn rõ bóng người nữa, nhưng tiếng cười đùa xáo động màn đêm vẫn còn vẳng lại. Và cô gái nào chợt cất tiếng hát: “...Đi dưới trời khuya sao đêm lấp lánh. Tiếng hát ai vang động cây rừng. Phải chăng em cô gái mở đường; chẳng thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát...”

      Tiếng hát, tiếng hát vang động, ngân mãi trong lòng Nam. Nam bỗng ước ao được sống lại cái tuổi trẻ, hồn nhiên mà Vân và đồng đội đang sống. Ôi! Cái tuổi đáng yêu! Cái tuổi mà cuộc đời là tình yêu! Yêu con đường qua làng, yêu những hạt thông có cánh bay xa, yêu hồ nước có hình sao năm cánh, yêu đồng đội và những người thân, yêu cả những viên đá gan trâu xù xì ẩn dưới mặt nước... Và yêu anh thợ ít nói, hiền lành mà dũng cảm, có vóc hình tròn trặn, chắc chắn. Phải, sao lại không thể có một tình yêu như thế?

      Nam chợt ngoảnh nhìn Tiêu đang đứng cạnh, đúng hơn là Nam ngắm nghía người thợ và bỗng thấy Tiêu cũng có một cái cằm thon nhỏ xinh xinh như em gái mình. “...Ừ, nhưng mà Tiêu... Cháu bé chắc lớn lắm rồi. Có lẽ Vân nó không biết... Ờ, mà như thế thì đã sao?...”

      - Tiêu ơi!...

      Nam cất tiếng gọi nhưng rồi đứng lặng không biết sẽ nói với Tiêu như thế nào.

      Tiêu ngước nhìn Nam, chờ đợi với một nỗi e ngại mơ hồ lẫn chút hồi hộp. Chưa bao giờ Tiêu nghe Nam gọi mình êm nhẹ, thiết tha như thế. Và bầu trời đầy sao đêm nay. Và tiếng hát. Và một giọng nói như đang hát lên trong lòng Tiêu. “...Anh Tiêu ơi! Anh có đồng ý không?”

      Một lát, Nam nói, giọng như lúng túng vì sự diễn đạt vụng về của mình:

      - Cậu rồi cũng phải xây dựng lại gia đình đi chứ.

      - Vâng... Nhưng tôi ngại lắm. Nhiều lúc giữa chỗ bom đạn, nghĩ không bận bịu gia đình lại hay.

      - Mình cũng đã nghĩ như cậu. Lúc mới về làng, mình như bị bao vây, rối lên. Cũng chẳng yên lòng mà hưởng hạnh phúc gia đình giữa cái nơi chẳng khác gì mặt trận này. Thế nhưng thực tế lại khác. Biết nói thế nào với cậu nhỉ? Nhưng thôi, trở lại chuyện của cậu. Cậu có bao giờ nghĩ là sẽ có cô gái rất trẻ yêu cậu không?

      Ôi chao! Làm sao mà có thể trả lời được câu hỏi ấy với anh Nam! Anh đoán biết ư?... À, mấy cậu vừa nói đùa. Đừng tin anh ạ...

      Nam ở lại làm với tổ Tiêu. Từ hôm Hào bị thương, Nam thường ra ngầm lúc chập tối và gần sáng. Đầu buổi làm, công việc thường xộc xệch; cuối buổi, thường nảy ra những việc ảnh hưởng đến hôm sau. Và những thì giờ đó cũng là lúc tổ thợ cầu làm việc.

      Nam sắp lên thuyền ra cầu thì một chiếc xe con chạy xuống ngầm. Nam hươ tay thét lên:

      - Dừng lại! Dừng lại! Ngầm chưa xong!

      Chiếc xe cứ rẽ nước trườn đi trên đoạn ngầm vừa xếp. Nam chạy chặn chiếc xe, nước văng ướt tận mặt, thét lạc cả giọng:

      - Dừng lại! Điên à?

      Chiếc xe dừng lại cách mút ngầm một quãng ngắn. Nam chạy xô lại, chưa kịp nói, đã nghe tiếng cười nhỏ nhẹ hiền lành mà vui vẻ của Vi:

      - Người nhà cả đây! Trộm phép ông chỉ huy, chạy thử một đoạn.

      Cùng đi với Vi có hai đồng chí bộ đội. Vi dẫn hai đồng chí đến xem cầu ngầm và cho Nam biết một điều bí mật: hàng hóa trong kế hoạch K5 là một đoàn tên lửa! Đoàn tên lửa nhất thiết phải qua đây vì đường tránh đã xấu, lại lắm đường cong ngoặt và gần biển, địch dễ đánh.

      Các đồng chí bộ đội đi rồi, Nam lại lộn trở ra cầu. Nam nhìn anh em thợ, cứ muốn nói cái tin vừa đáng mừng, vừa đáng lo đó, nhưng chưa được phép, chỉ thầm xuýt xoa: “Chà! Tên lửa! Một đoàn tên lửa sẽ qua đây!”

      Đã hai năm rồi, hàng triệu người trên dãy đất hẹp khu Bốn này nóng lòng được trông thấy nó. Dù biết mình đánh Mỹ không phải chỉ có thứ vũ khí ấy, nhưng mà vẫn mong. Nhất là từ ngày 12 tháng 4 năm 1966, lần đầu giặc Mỹ dùng B.52 đánh miền Bắc, rải bom trên đường đèo Mụ Dạ. Rồi những xã ở Vĩnh Linh bị hủy diệt dưới làn bom rải thảm B.52. Phải trừng trị chúng nó! Tên lửa đã vào khu Bốn! Anh em, bà con ơi, chỉ nay mai thôi, một đoàn tên lửa sẽ qua đường làng Hạ chúng ta!

      Nam lần xem lại các vì cầu và dừng lại bên chiếc cọc vừa đóng. Nam đứng một chân trên giàn giáo, một chân ghếch lên đầu cọc. Bất chợt, Nam rùng mình. Chiếc cọc dưới chân rung lên. Sợ cảm giác đánh lừa, Nam đạp thử. Chết thật! Cọc như muốn nghiêng đi! Hèn gì mà thấy đóng nhanh thế! Không biết cậu Hào tính toán ra sao? Một đoàn tên lửa!...Ồ! Sao lại lú lẫn không hỏi kích thước, sức nặng đoàn xe? Lúc mình học làm gì có thứ này! Đã thêm một nhịp rồi, nếu phải thêm cọc, thêm rầm nữa, biết lấy gỗ đâu? Thì giờ đâu? Và mấy chiếc cọc vừa rồi sao mà xuống thùn thụt? Chà! Một đoàn tên lửa! Biết làm thế nào đây?

 

 

XIII

 

 

      Cả làng Hạ như cùng thức giấc. Tiếng ô tô ì ì, cả tiếng xe xích nặng nề, ồn ào mãi. Đoàn  pháo cao xạ về. Trận địa đã  được dân quân làng Hạ, làng Trung làm xong từ nửa đêm qua.

      Mờ sáng, những người “thăm” trận địa trước hết là các chú nhỏ. Các chú lượn quanh; thằng Hòa thì vào tận hầm pháo. Một anh bộ đội bế chú đặt lên ghế pháo; nhưng vừa đặt xuống, anh lại bế chú ra khỏi hầm. Chỉ tay về làng dỗ dành:

      - Cháu về đi! Nhanh nhanh lên. Sắp đến giờ máy bay đến rồi!

      Thằng Hòa dướn mắt nhìn anh bộ đội, đi một vài bước, dừng lại nhìn anh. Đôi mắt như nói nên lời: “Ôi! Tưởng gì chứ máy bay thì có ngày nào nó không đến đành làng của cháu!...”

      Chiều, cô giáo Liên dẫn các em học sinh lên đồi. Nón mũ nhấp nhô trên sườn dốc rồi biến dần. Các em nghe lời cô giáo, trước khi giúp ngụy trang pháo, bẻ lá ngụy trang nón mũ  mình. Sườn đồi xanh chỉ còn thấp thoáng một vành khăn trắng. Bà Nghi lại đeo sọt đi hái chè góp, hái những lá tràm, lá dâu, là rành rành...Sọt chè góp trước, bà phơi khô lấy một gói đưa cho tổ Tiêu. Còn nữa, bà đem đến nhà bếp đại đội thanh niên xung phong. Vùng này hiếm chè, bà biết anh em toàn uống nước gạo rang. Trời thì nắng như đổ lửa thế kia...

      Khi những bó ngụy trang tung tăng tỏa về các trận địa, trong nhà cụ Tám, nghe tiếng hò đóng cọc vọng vào, Hào nhìn vòng băng một lát, rồi đi đi, lại lại từ nhà ra sân, rồi từ sân vào nhà. Những bước đầu còn ngường ngượng, nhưng trong chốc lát, Hào đã lấy lại được dáng đi bình thường. Phải ra cầu thôi! Để bàn với cậu Tiêu xem có cách gì không? Việc thật đơn giản mà đến là khó! Có những việc mới tưởng là gay go, thì lại rất giản dị! Chuyện đời đến lạ!

      Cái đoàn tên lửa hiện đại, Nam chỉ thấy trong phim Liên-xô và trong tưởng tượng, làm Nam cuống lên, thì lại chẳng có gì đáng ngại. Hai trục xe chở tên lửa cách xa nhau, nhịp cầu gỗ nhỏ nhoi, nên không lúc nào phải chịu cả hai bánh xe. Cái khó lại là những chiếc cọc gỗ gặp chỗ đất mềm!

      Hào đã nghĩ ra cách giải quyết một cách tình cờ, khi chợt nhìn ra bàn chân cụ Tám. Bàn chân đi đất, to bè vì lao động nặng nhọc suốt đời, có ngón cái xòe ra và cong cong như lúc nào cũng bấm sâu xuống đất, để chống chọi sự xô đẩy xung quanh. Bàn chân... Bàn chân to bè mới trụ nổi mấy tầng áp bức... Một bàn chân...Phải rồi! Cọc đẽo nhọn cho dễ đóng, nhưng nay sẽ lắp cho nó một bàn chân, bàn chân bằng ván chống lún!

      Hào đã đập tay xuống bàn reo lên; Nam thì khoan khoái đưa bàn tay to kềnh đập mạnh vai Hào như ở ngầm hôm nào. Nhưng chỉ lát sau, Nam đã xìu như quả bóng xì hơi. Muốn lắp chân chống lún, phải khoan dưới nước. Áo lặn không có. Mà có cũng chịu. Máy bay tàu chiến nó đánh thế, cởi được bộ đồ lặn thì mất xác đến mấy lần! Chỉ còn cách bàn với cậu Tiêu. May ra...

      Hào sang nhà bếp ăn cơm, trở lại hầm lấy chiếc ba lô Hào vẫn làm gối, rồi ra ngầm.

      Hào lại gặp cô giáo Liên! Cô đang nói chuyện với một anh bộ đội bên cây dương đầu làng. Hào định tránh, nhưng thằng Hòa đi bẻ lá ngụy trang về trông thấy, níu tay Hào nói ríu lại:

      - Chú Hào ơi! Chú Chiến của cô Liên đấy! Và thằng bé như kéo Hào đi.

      Liên hỏi:

      - Anh đi đâu mà đeo ba lô thế? Hay là có xe về Ty?

      - Không ! Tôi ra ở lô cốt đi làm cho tiện.

      Anh bộ đội tiến một bước, đưa tay đón Hào. Hào bỗng nhớ đến chiếc phong bì kẹp trong quyển sổ bìa ni lông xanh dạo nào.

      - Anh Chiến phải không ? Vui nhất làng Hạ là cô Liên rồi !

      Hào không ngờ mình nói được tự nhiên, vui vẻ như thế và nhanh nhẹn đưa bàn tay có những ngón dài, thon nhỏ, nắm lấy bàn tay nóng hổi, cứng cáp của anh bộ đội.

      - Sao đồng chí biết ?

      - Cô giáo đã nói với tôi về anh !

      Hai người con trai nắm lấy tay rất lâu, rất chặt, tin cậy, như đôi bạn thân lâu ngày gặp nhau.

      Hào bước đi, lòng thanh thản, vui vẻ, vì chợt thấy mình như tốt đẹp cao thượng hơn. Đôi chân Hào như cũng nhẹ nhõm và muốn bước nhanh hơn.

      Trên đường ra ngầm, Hóa và ba tiểu đội trưởng đi làm trước, để kiểm tra việc làm đêm qua, cũng gặp người quen cũ. Tiếng Hóa, rất to, mừng rỡ :

      - Vân ơi ! Tín ơi !... Anh Cường ở C3 đây này !

      Giữ kỷ luật phòng không, bốn người đang đi cách nhau, chạy xô lại :

      - Ôi ! Anh Cường ! Anh khỏe không ? - Cả C3 về đây à ? - Thế anh Ngạn, anh Sửu, anh ...à, anh gì hát rất hay ấy...

      - Anh Ban ! Thế mà mày đã quên !

      - Thế các anh ấy có về đây cả không ?...

      Tiếng hỏi rối rít, vội vàng. Thế rồi chia tay, người nào việc ấy. Ai cũng thấy mình như khỏe khoắn ra, náo nức trong lòng.

      Bốn chiến sĩ đã đến đầu ngầm. Hào dừng bước trên lối mòn lên lô cốt nhìn theo, lòng rộn một niềm ao ước. Ước gặp người quen trên con đường này. Hào bỗng nghĩ đến Hùng. Như bố nói, Hùng ở đơn vị tên lửa. Không chừng ngày K5 qua, Hào sẽ gặp !

      Ý nghĩ ấy như reo hát trong Hào, hát một niềm vui, hơn thế, một niềm hạnh phúc. Ừ, đâu chỉ tình yêu trai gái mới là hạnh phúc. Nhưng trên con đường này  cũng đã xòe nở những tình yêu. Bên cây dương đầu làng, cô giáo Liên và đồng chí chuẩn úy Nguyễn Công Chiến vẫn còn chuyện trò. Ở đây, Hào đang dõi theo bốn chiến sĩ ; Không, lúc này Hào chỉ còn dõi theo một người thôi, một cô gái thân hình gọn gàng, đội chiếc mũ nhựa có vòng lưới phơ phất những mẩu vải dù ngụy trang, bước đi như nhảy nhót, đang giơ tay vẫy những người thợ cầu ngoài xa...

 

      Tổ thợ cầu làm việc giữa hói còn thiếu ba người.

      Đi ngoài về, Lưu nằm phịch xuống ván, tay ấn lên bụng, mặt nhăn nhó. Tiêu hỏi nhỏ :

      - Cậu đau bụng à ?

      - Bộ tôi muốn đi kiết rồi ! E không đi làm được...

      Lưu nói, giọng khổ sở, dừng một lát, rồi tiếp :

      - Nhưng... thôi, anh để tôi gác máy bay cho...

      Lưu đưa mắt nhìn Tiêu, nhưng phải ngoảnh vội, vì bắt gặp ở đôi mắt hơi cách nhau và rất hiền của Tiêu cái nhìn thẳng, như soi vào gan ruột mình.

      - Thế thì hay rồi ! Tôi ra cầu nhé !

      Sợ lỡ dịp, Vệ nói nhanh, giọng ngon lành, như việc đã rồi. Mà thế thì hợp lý quá đi rồi ! Vệ lạ gì người tổ trưởng nom hơi chậm chạp mà « tinh quái » trong cách bố trí công việc. Nhưng Tiêu đã bảo Lưu :

      - Cậu đau cứ nghĩ. Có Vệ gác máy bay rồi.

      Anh em thợ lần lượt rời lô cốt. Đến cuối dốc, Tiêu nói riêng với đồng chí tổ trưởng công đoàn :

      - Cậu Lưu giả vờ ! Lúc trưa, khi thằng trinh sát lượn quanh, cậu ta đã rên : « Không khéo trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết oan. » Trước kêu không có súng bảo vệ, nay pháo về, lại lo vạ lây ! Tôi định nói thẳng, nhưng anh thân với Lưu hơn...

      Đứng ngoài lô cốt, Vệ nhìn hai người cán bộ tổ, có ý chờ. « Biết đâu mình lại được gọi ra cầu. Ông Tiêu chắc thấy xót vì mất đứt một công rồi !... » Và Tiêu gọi thật. Vệ chạy, bàn chân vừa chạm khẽ đường mòn, đã cất lên. Tiêu đặt bàn tay có những ngón ngắn, dày chai lên vai Vệ, dặn nhỏ :

      - Giao cậu thêm một nhiệm vụ. Nếu Lưu không đi làm, để ý đến cậu ta... Việc nhẹ, nhưng cậu đừng coi thường.

      Tiêu ra tới cầu thì Hào cũng vừa đến lô cốt. Hào cởi quần dài, mở cuộn băng cột lại, rồi cùng đồng chí tổ trưởng công đoàn ra cầu.

      Trong lô cốt chỉ còn Lưu. Lưu nằm, tay vẫn đặt lên bụng, nhưng không ém nữa; bộ mặt thôi nhăn nhó, cặp má như chảy xuống. Rồi Lưu trăn trở, tiếng thở mệt nhọc.

      Mặt trời đã khuất sau đồi thông. Ánh nắng tỏa vào lô cốt êm ả, mờ dần. Có tiếng ô tô. Ra sớm thế, chắc là xe của Thìn. “... Thìn ơi! Sao mà mày sống thoải mái, mà tao thì cực nhọc thế này!...” Lưu tưởng như thấy anh chàng Thìn nghiêng đầu trong buồng lái. Một nụ cười, một ánh mắt... “... Ôi! Sao mà mày làm tao thèm muốn vậy!...” Trong giây lát, Lưu bỗng nhớ lại tất cả, như muốn đem tia lửa nhỏ nhoi vừa lóe trong tâm hồn, soi rọi lại đời mình, tìm hướng đi...

      Thìn và Lưu cùng quê thị xã. Khi giặc Pháp cuốn chạy, hai chú đều đang đeo bên vai chiếc phích kem, lang thang khắp phố, khắp chợ. Hai năm sau, cả hai đều được đi học. Thìn theo đến lớp bảy, người bố làm ở công tư hợp doanh vận tải xin cho làm chân phụ xe. Thìn còn bốn đứa em và chúng nó cần được học hành. Khi công tư hợp doanh chuyển thành xí nghiệp quốc doanh, Thìn được thi học lái.

      Lưu bỏ học từ lớp bốn. Mẹ Lưu bán hàng nước, nhưng Lưu là con một, bà hết lòng chiều chuộng, chỉ mong con ăn học. Lưu ưa sống “tự do”, xin làm phụ cho một người chữa xe đạp. Đôi bạn mỗi người một đường, nhưng thỉnh thoảng vẫn gặp nhau. Nói đúng ra, Lưu chưa có đường đi, nên mới có dịp gặp lại Thìn. Có những lần gặp khó quên. Ấy là một chiều (ờ, có lẽ cũng mặt trời vừa lặn, ánh sáng êm ả, rồi mờ dần như thế này đây!) Lưu diện áo pô-pơ-lin Nhật trắng tinh, quần tờ-rô-pi-can thẳng nếp, đầu bóng lộn, miệng phì phèo thuốc lá, cùng bạn nghề dạo chơi. Thìn thì vừa bò dưới gầm chiếc xe tải ra; chiếc xe cũng nhem nhuốc như quần áo, mặt mũi Thìn. Lưu định tránh, nhưng nghĩ sao, lại rút điếu thuốc “ba con năm”, châm lửa đưa cho Thìn. Vậy là trọn nghĩa bạn bè, lại khỏi bắt bàn tay lấm lem dầu bụi.

      Lưu có người bác họ là cán bộ ở tỉnh. Người bác muốn đứa cháu nên người, xin cho Lưu vào một xưởng cơ khí địa phương vừa xậy dựng. Nhưng Lưu không ở được lâu. Hai chữ “cơ khí” nghe oai oai, hấp dẫn, nhưng lại là nghề đòi một tinh thần trách nhiệm cao, một sự tập trung tư tưởng cao độ. Rồi giặc Mỹ đánh vào xưởng từ những ngày đầu cuộc chiến tranh. Xưởng sơ tán vào hang núi. Lưu bỏ về. Người  bác lại chạy ngược xuôi, xin cho Lưu đi công trường. Và vào lúc Lưu sắp bị đuổi, tổ Tiêu đón về...

      Mấy tháng được anh em tổ thợ cầu dìu dắt, Lưu đã vượt được những thử thách khá gay go. Hôm nay, lại một thử thách mới. Lưu đã chùn lại, nhưng tia lửa nhỏ nhoi vừa lóe trong tâm hồn cứ sáng dần. Lưu nghĩ đến đồng đội, đến Thìn, đến Vân... Và cả anh kỹ sư Hào, chân còn quấn băng vừa ra cầu...

      Trong lô cốt đã tối hẳn. Lưu nhìn ra cửa. Không, đêm nay trời không tối. Có trăng. Vành trăng già nửa, đầy đặn như bát cơm đắp lùm đã lên cao, rọi sáng mảng tường xù xì ở cửa lô cốt. Tiếng còi pi pi rộn rã, tiếng chuỗi cười dài của một cô gái nào đó, tiếng hò đóng cọc và tiếng vồ thình thịch, gan góc kiên nhẫn bỗng ùa vào lô cốt. Không! Có gì mà sợ! Ra cầu thôi, vui lắm, lại có anh có em. Ra thôi! Anh em thương mình, không cười đâu...

      Lưu ngồi dậy, bước ra cửa. Ô! Trăng sáng thật! Mà sao bầu trời đêm nay cao rộng, khoáng đãng như thế? Sao chỗ đứng này lại nhìn được xa đến thế?...

      ... Ngầm vươn dài, thanh niên xung phong và thợ cầu đã có thể nói chuyện với nhau. Kiểu hò cộc lốc “dô ta này” ít đi. Những câu hò tự nhiên bật ra:

      Thương em (này)ướt át (này)lội ngầm (này)Đóng thêm (này)vì nữa (này)bắc rầm (này)đón sang (này)

.............................................................

      Ban đêm (này)đóng cọc (này)bắc cầu (này)

      Ngày nằm (này)nắng...

      Chợt có tiếng gắt lên mà giọng vui vẻ:

      - Thôi đi! Tục lắm!

      Câu hò bị ngắt. Tiếng cười rộ lên rung cả mặt nước.

      Vào lúc đó, Tiêu đang đánh vật với chiếc khoan dưới chân cột cầu. Hào ra bàn với Tiêu việc khoan dưới nước, Tiêu đứng lặng một lúc, rồi nói:

      - Biết cách gì! Đành “lặn bộ” mà khoan. Ba hơi không xong thì mười hơi!

      Và Tiêu ôm cọc tụt xuống.

      Tiêu nổi lên, cái đầu tóc ướt mèm lắc qua, lắc lại:

      - Cái tiếng vồ... Vỡ tai mất... Không được anh ạ.

      Cắm khoan vào là người nổi bồng lên.

      Hào thầm mắng mình: “ Ngốc thật! Đáng ra mình đoán hiểu được!”

      Dừng một lát, Tiêu nói:

      - Giờ treo đá vào cổ thì khoan được!

      Đang lo lắng. Hào cũng phải bật cười:

      - Cậu định tự tử à? Treo đá vào, hết hơi, lấy sức đâu bỏ ra?

      Tiêu “ờ ờ” rồi cũng cười. Bỗng Tiêu reo lên:

      - Thôi! Được rồi! Được rồi! Tôi lặn xuống, anh đạp trên vai tôi!

      Hào gạt ngay:

      - Ai lại làm thế. Có mà điên!

      - Sao lại điên? Anh cứ đứng trên vai cho tôi. Hết hơi, tôi véo vào chân anh... À, để tôi gọi cậu khác. Chân anh đã khỏi đâu.

      Hào đã thấy ra cái lý của Tiêu, vội nói:

      - Chân mình khỏi rồi. Được! Cứ thử xem!

      Để Tiêu khỏi “lôi thôi”, Hào ngồi ngay xuống đầu cọc, buông chân xuống nước.

      Chờ hết nhịp vồ, Tiêu ôm cọc tụt xuống. Mất đến mấy giây, Hào mới đặt chân đến vai Tiêu. Hào thấy áy náy phải làm một việc mà Hào vốn giỏi tưởng tượng cũng không ngờ. Khi bàn chân Hào đã chạm đôi vai chắc nịch của người thợ, Hào cứ đánh đu ôm lấy cọc, Tiêu phải đưa tay túm chân Hào kéo xuống...

      Trên lô cốt, Vệ gõ kẻng ba tiếng một dồn dập. Lưu vừa đến đường cái phải bật trở lại lô cốt.

      Tốp máy bay thả một chùm bốn pháo sáng. Chúng thả cao, lượn mấy vòng vẫn chưa cắt bom. Bỗng một chiếc phản lực sà xuống, máy rú như một bình khí căng tròn, chứa đầy mảnh kim loại, chợt vỡ bung. Từ một hầm chéo bằng rơm đầu mút ngầm, Hào bật thét lên:

      - Bắn bỏ mẹ chúng nó đi các đồng chí ơi!

      Tất cả các chiến sĩ quanh ngầm, cả làng Hạ đều gầm lên:

      - Giã mạnh vào các đồng chí ơi!

      Bọn cướp như muốn nhử tìm pháo, nên các nòng thép cứ lặng yên. Ít phút sau, bom mới rít veo veo, chớp lửa sáng lựng bên hói.

      Loạt bom thứ hai rơi dưới chân lô cốt. Các trận địa pháo quanh làng Hạ vẫn cố giữ bí mật lặng im, nhưng khi bọn cướp vòng đến đường tránh, thì dưới đó, từng chùm đạn pháo vàng thắm vạch trời đêm vút lên tới tấp.

      Trong lô cốt, Lưu không đứng yên chỗ nào được lâu. Xung quanh, những bức tường bê tông cốt sắt dày mà Lưu thấy mình như trơ trọi. Chao ôi! Cái cô độc đáng sợ biết chừng nào! Loạt bom nổ gần làm lô cốt rùng lên. Hơi bom ép vào như ai đưa bàn tay khổng lồ xô vào ngực. Lưu chạy từ góc này, sang góc kia, nhưng ở đâu cũng không tìm được chỗ dựa chắc chắn.

      Sáu đèn dù nữa đã bật sáng. Phía đường tránh, đạn pháo lại vút lên. Lưu run bần bật, miệng mấp máy, không nói rõ được tiếng nào. “Pháo quanh đây rồi cũng bắn thôi! Vài chùm bom nữa, thế nào cũng có quả trúng lô cốt...”

      Lưu  đã quên tất cả, chỉ còn nghĩ đến mình. Ánh pháo sáng, chớp bom, hơi bom đã làm mờ đi, đã dập tắt tia lửa vừa lóe trong tâm hồn Lưu!

      Lưu bật chạy khỏi lô cốt. Lưu không chạy về làng. Phía ấy có nhiều trận địa pháo. Lưu chạy về phái cửa hói, để tránh xa ngầm và các trận địa. Con đường Lưu chạy, rất ít người đi, cỏ ống mọc dày, nên dù dưới ánh pháo sáng, bước đi của Lưu cứ chệnh choạng, xiên xẹo và vấp ngã mấy lần.

      Ở một hầm rơm bên ngầm, Vân ló ra quan sát xung quanh đã bắt gặp dáng đi ấy của Lưu.

      - Anh Tiêu ơi! Ai như...

      Tiếng gọi bị bom nổ át đi. Loạt bom rơi xa, chếch phía cửa hói.

      Sau đó, bị pháo thu hút, bọn cướp nhào về đường tránh. Vệ chợt nhớ đến Lưu, lại bên lỗ châu mai gọi:

      - Lưu ơi! Lưu ơi!

      Chỉ thấy một mảng đen im lặng.

      Suốt đêm, tổ thợ cầu không ai chợp mắt. Sáng, trở lại lô cốt, mỗi người lặng lẽ về chỗ nằm của mình. “Con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”, huống chi là một con người. Nhưng không hẳn là một nỗi đau buồn. Không thể cất tiếng gọi trả thù hay nhắc nhở anh em học tập gương người đã khuất như đối với một chiến sĩ hy sinh giữa trận địa. Trong mỗi người, như có hai tiếng nói khác nhau, đều muốn giành lẽ phải thuộc về mình. Một tiếng nói phê phán nghiêm khắc; một tiếng nói bao dung độ lượng. Ừ, nếu như Lưu còn sống... Phải, về cách sống của Lưu thì phải phê phán nghiêm khắc. Nhưng Lưu đã chết. Có lời phê phán nghiêm khắc nào bằng!

      Tiêu trở mình và bất chợt bắt gặp Vệ đang nhìn mình. Thì ra cậu ta cũng chưa ngủ. Một ý nghĩ đang trăn trở để thành hình. Và Vệ nói:

      - Anh Tiêu ạ, tôi có khuyết điểm... Anh đã dặn tôi...

      - Thôi! Cậu ngủ đi. Tất cả chúng mình đều có khuyết điểm. Lần đầu, tổ ta bỏ rơi mất một người chậm tiến để thằng Mỹ cướp mất...

      Hào đã sắp ngủ, nhưng nghe tiếng nói thì thầm của hai người thợ cầu, bỗng tỉnh hẳn. Tiếng nói nhỏ mà có sức lay động tâm trí Hào. Không phải  là lời phê phán; cũng không phải là tiếng nói bao dung. Tiếng nói ở một tầm cao hơn, Hào chưa nghĩ đến, tiếng nói của tinh thần trách nhiệm và tình thương chân thành. Hào đưa mắt nhìn quanh và chợt nghĩ: “ Mình sẽ nói với Tiêu hãy coi mình là một tổ viên....Mình muốn sống mãi mãi với các cậu...”

Tác giả: Nguyễn Khắc Phê

0 / 5 (0Bình chọn)
Bình luận
Gửi bình luận
Bình luận

    Video mới nhất

    Bản hùng ca trên sông

    Hình ảnh mới nhất

    Một số hình ảnh lễ cúng Cồn Cui 2026

    Thống kê truy cập

    Hôm nay: 7228

    Trong tuần: 7228

    Trong tháng: 20216

    Tổng số: 13284499

    Đang online: 82

    quan_ly_thong_bao