Cụ Tám đang ngồi sửa chiếc bừa dưới giàn che nắng, thì chuông điện thoại trong nhà réo lên. Một hồi, hai hồi. Cụ buông dao, ngoảnh nhìn vào nhà rồi nhìn ra ngõ. Chẳng có ai. Thằng Nam, bác Vi không biết đi đâu rồi. Từ hôm qua đến nay, ở nhà cụ Tám, thỉnh thoảng cán bộ dồn đến, tranh cãi ồn lên một hồi, rồi chạy mỗi người một ngả.
Chuông lại réo, một hồi dài gay gắt... Cụ Tám đành vào nhà, rụt rè cầm ống nghe. Cụ cầm ngược, nhưng người gọi chắc đang bực lắm, hét to, nên cụ vẫn nghe:
- K5 đâu? Cầm máy trả lời cho “20” đây!
- À... Tôi là người nhà đây...Họ đi vắng cả...
Tiếng gắt gỏng vẫn bật ra trước miệng cụ:
- K5 đâu ! Trả lời đi !
Cụ Tám bỏ máy, ra sân, chưa kịp ngồi, chuông laị réo. Cụ ra ngõ, cái đầu húi cua quay phía này, phía khác, nhưng không có ai về. Một tốp phản lực “gầu gầu” lượn vòng trên đầu, cụ cũng chẳng buồn vào hầm. Bỗng tiếng bom rít và những cột khói hình nấm đen đặc ùn ùn phía ngầm. Biết có pháo, bọn cướp cắt bom rất cao. Bom cỡ lớn tiếng nổ không căng như bom sát thương, nhưng mặt đất rùng mạnh.
Cụ Tám đang đứng sững nhìn những cột khói bốc cao, tỏa rộng, tối mịt một khoảng trời, thì có tiếng chân thình thịch phía sau. Nam về.
- Có chuông điện gọi đấy! Họ bảo trả lời cho “ 20”
- Ôi ! Tưởng ở đâu, chứ “ 20” thì kệ họ!
“ 20” là số điện thoại của Ban đảm bảo giao thông tỉnh mà Trưởng ban Hải thì vừa ra làng Hạ hồi đêm.
Chuông lại réo. Nam vội vào nhà, tưởng là tin trinh sát ngoài ngầm báo về sau trận bom, nhưng lại nghe điện từ đội cầu:
- A lô!...À, anh Bái đấy à?... Sao? Cháy xưởng cưa rồi à?... Rầm cầu cũng bị cháy à?... Thế thì chết dở rồi!
Nam ngồi phịch xuống phản, tay vẫn để trên ống nghe, bộ mặt vuông cứng đông lại, gò má dô ra.
Cái bọn chó chết! Có lẽ chúng đã “đánh hơi” được K5 rồi! Ba quả bom đêm trước, chỉ có một quả ăn lẹm mất một đoạn đường ngầm; nhưng sáng hôm sau, loại trinh sát cánh nhọn, loại RF4C lượn ngang, lượn dọc, và chiều đến, chúng vãi bom cả ở đường tránh, đường giả, đào ba cái giếng giữa đoạn ngầm vừa xếp. Rầm dọc một nhịp cầu vừa lắp xong bay sạch! Nay thì lại cháy rầm trong xưởng cưa!
Nam đứng dậy, quay máy gọi về Ty. Vòng quay vội vã, máy rú lên:
- A lô! Cho xin “13”!
“13” chưa trả lời, chuông lại réo, Hào từ lô cốt gọi về. Nam nghe, tay đập khẽ xuống bàn:
- Thế thì chết rồi! Lại bay mất một nhịp nữa à... Nhưng ngầm có trúng qủa nào không?... Hào này, gay go hung rồi! Xưởng cưa đội cầu cháy... Sao lại không! Anh em xông vào cứu gỗ, hy sinh mất hai đồng chí. Chúng dập mấy loạt bom bi khi lửa lân tinh đang cháy... Cậu và cậu Tiêu vào họp đi...
Nam quay máy gọi “13”:
- Vâng K5 đây!... Các anh có thể điều cho chúng tôi vài chiếc xe nữa không? Thì ít ra cũng bù cho chúng tôi một chiếc đi chở xăng hôm kia chứ!...
Phía bờ Bắc, K5 đang mỗi đêm một nhích dần lại. Chuông điện thoại réo mãi, đôi lúc như chán chường, chỉ xành xạch, rè rè. Vẫn chỉ là những câu hỏi, những lời giục giã từ Ty giao thông, Ban bảo đảm giao thông tỉnh, Tỉnh đội, Trạm X... và cả từ một đơn vị mới; bộ phận tiền trạm của đoàn tên lửa! Có cả điện từ một đoàn xe tải, hỏi xem mấy ngày nữa thông đường chính qua làng!
*
* *
Về tới nhà cụ Tám, ngồi xuống chõng, Hải mới châm thuốc hút. Điếu thuốc cầm tay từ lúc gặp Vi đi xem đường giả, đã bẹp một nữa. Nghiện thuốc lá nặng, lại đã nhịn một hồi lâu, nhưng Hải cảm thấy điếu thuốc mình đang hút nhạt phèo, đôi lúc như quên bẵng là đang có một điếu thuốc đang cháy ở cửa miệng.
Hải ngồi yên, hai tay tì lên đầu gối, người hơi vươn về phía trước, mắt nhìn đăm đăm về phía đường giả; “ Chà! Thật không ngờ!...” Đoạn đường giả lại như hiện trước mặt Hải.
Bây giờ, nó không còn là một vệt trống hun hút gió Lào. Những trận bom đã đánh nát hai bên, thành một vạt trống trắng. Dấu vết làng cũ chỉ còn những nền nhà ngói bỏ trống, những nền nhà tranh trơ trọi vài chiếc cột cháy đen, vài nhà ngói không dỡ, đổ xụp xuống xiêu vẹo và những mảnh chum, chai lọ, chiếc liềm cùn, mảnh nhôm cháy quăn queo từ một chiếc xoong... nằm lẫn với những mảnh bom, những ống lân tinh xám nhạt và những cục than lân tinh xốp.
Chỉ còn hai vệt bánh xe là như nguyên vẹn, không đứt quãng chỗ nào. Và những mầm sống mới trồi lên. Những cái hoa mướp nở rộng, khoe màu vàng sáng sủa nhẹ nhàng trên cái giàn đổ nghiêng trước một ngôi nhà đã quỵ xuống. Những mầm non xanh nhạt, chớm xòe thành lá, trồi lên từ những bụi chuối chặt sát gốc bên đường.
Hải vụt đứng dậy. Một ý nghĩ vừa nảy mầm. Hải bước ra sân, quay lại nhìn nhà cụ Tám. Sau trận bom thứ năm, nhà thu lại còn một nửa. Một bức vách chắp vá bằng gỗ, bằng phên phân đôi nền nhà. Bức tường đầu hồi đứng trơ trọi, một mảng vôi vỡ ra, để lộ những viên đá gan trâu xù xì.
Hải lại bên chiếc bừa đạp, hỏi cụ Tám:
- Nhà cửa thế này, mùa mưa đến rồi ngủ vào đâu cụ?
- Ôi! Bây giờ thì tính gì chuyện nhà với cửa hở bác!
- Nhưng cụ bảo, thằng Mỹ rồi nó cũng phải thua chứ?
- Đã đành! Đến lúc đó thì như Cụ dạy, ta xây dựng lại đàng hoàng hơn...
Cụ Tám chợt ngửng lên, trên bộ mặt nhăn nheo, sạm nắng, bừng nở một nụ cười trẻ thơ và thoáng chút ngượng ngập:
- Thằng Nam nhà tôi, hễ cứ thấy tôi động sửa sang nhà cửa là nó lại nói như hát lên câu ấy. Dừng một lát, cụ hỏi:
- Tôi hỏi khí không phải, bác là cán bộ ở tỉnh về?
- Vâng! Nhưng cụ cứ coi như người nhà thôi!
- May nhờ các bác về. Có cách gì giúp anh em ở đây... Chuông thì réo ngày, réo đêm mà tôi nghe ra thì cầu ngầm hỏng hết rồi! Bao nhiêu là công phu...
Hải bỗng cười to:
- Tỉnh huyện gì cũng ở nơi dân cụ ạ. Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong! Đang định hỏi cụ có cách gì thì góp cho chúng tôi với!
Cụ Tám lại cười, nụ cười trẻ thơ và như ngượng ngập:
- Bác cứ nói... Già nua lẩn thẩn như tôi...
- Thì cụ chẳng đã giúp anh em làm hầm giữa ngầm đấy là gì!
- Đó là công lao của bà con cả hợp, chứ mình tôi thì làm gì nên hở bác?...
Hải đến nhà hầm thì các cán bộ từ tiểu đội trưởng trở lên và các đồng chí bí thư Đảng ủy xã, xã đội trưởng, ba bí thư chi bộ ba hợp tác xã làng Hạ, làng Trung, làng Thượng đã đủ mặt. Mở đầu cuộc họp lại không phải chuyện giao thông. Hải gõ gõ điếu thuốc ở bàn và nói:
- Các đồng chí biết tin chiến thắng mới chưa? Đêm hôm kia, ta lại tấn công sân bay Đà Nẵng. Mới tin thằng địch thú nhận mà đã 42 chiếc bị phá hủy, hơn 180 tên Mỹ chết và bi thương. Thế là đau, đau lắm!
Sau tiếng “à, ồ” của mọi người, một chiến sĩ nói nhỏ, nhưng trong nhà hầm ai cũng nghe:
- Thế mà chúng nó vẫn lắm máy bay nhỉ?
Hải cười to, giọng sảng khoái và hơi “bốc” một chút:
- Gay go thế mới đến phần mình, mới phải họp ở đây. Nhưng keo này quật được thằng Mỹ thì chẳng thằng nào dám trêu vào mình!
Hải bật lửa, châm thuốc hút một hơi rồi hạ giọng nói:
- Cũng báo cáo các đồng chí biết, hôm kia, thằng Mỹ lại cho nhiều đợt máy bay B.52 đánh rất dã man ở Vĩnh Linh... Tình hình như thế! K5 thì đã ở gần bờ bắc. Cũng nói rõ với các đồng chí, K5 là một đoàn tên lửa... Mà không có K5 cũng nhất quyết thông xe đường chính! Mùa mưa tới, cứ bắt xe hụp lặn loanh quanh ở đường tránh là không được...
...Cuộc họp còn luẩn quẩn với những ý kiến tăng xe, tăng quân... những ý kiến nếu dùng được đã chẳng phải họp bàn, Hải chợt nhận ra cụ Tám đang đi lại gần cửa hầm. Cụ vẫn mặc chiếc quần nâu đến đầu gối, đôi chân hơi khuỳnh khuỳnh, mái tóc húi cua dựng lên cứng cỏi. Cụ ra hiệu gọi Nam. Nam đi ra rất nhanh. Chưa đến gần bố, Nam đã hỏi, giọng thoáng chút bực bội:
- Đợi tí nữa con về không được à bọ?
Cụ Tám như chẳng nghe Nam nói gì, cứ theo ý mình, giọng hơi lúng túng:
- À... Con Tí nhận được thư thằng Đông rồi! Nó vừa lại đọc tao nghe. Thằng Đông được Đảng rồi!
- Thật à bọ? Thế mà bọ cứ lo!
Nam định trở lại nhà hầm thì cụ Tám nói tiếp:
- Mày nói với các bác ấy, chỉ có cách đập nhà trong làng gánh ra ngầm là mau!
Nam như giật mình, dướn mắt nhìn, chờ cụ nói thêm, nhưng cụ lặng quay về. Nam vừa vào đến cửa hầm. Hải đã bước lại hỏi:
- Ông cụ nói chuyện gì thế?
- Bọ em bảo... đập nhà chuyển ra lấp ngầm.
Cùng lúc đó, sau ý kiến của đồng chí bí thư làng Trung: “ Nếu trên đồng ý xin cho huy động dân cả ba làng vào núi gánh đá ra!”. Vựng nói ngay, rất to:
- Nếu thế thì đập nhà xây trong làng hơn. Núi đá xa ba bốn cây, ngày vài chuyến, khi nào cho đầy!
Việc đập nhà, Hải đã thoáng nghĩ khi xem đường giả về. Nhưng Hải chờ; Hải muốn dân làng tự nói ra. Nay thì chỉ còn một khó khăn: Huy động quá đông người gánh ra ngầm thì nguy hiểm.
Nhà hầm chợt lặng đi. “Việc gấp quá rồi! Có cách gì nhỉ?” Một câu hỏi chưa có ai trả lời.
Ngồi giữa tốp thanh niên xung phong, đôi mắt Vân mở to mà như không nhìn vào một nơi nào cụ thể. Những hình ảnh gần xa hiện đến, xoay tròn, xoay tròn, nổi dần lên rồi tụ lại như những hạt thóc trên sàng... Chiếc thuyền con chở tổ anh Tiêu ra cầu... những chiếc bè chở đá đắp ngầm K trên Trường Sơn... Những chiếc thuyền trên vai thanh niên làng Hạ lên hồ Ông Viễn trong những ngày Quốc khánh...Giữa lúc tốp thanh niên xung phong như bị bỏ quên, Vân giơ tay:
- Cháu xin có ý kiến!
Hải nói to:
- “Cháu” là thế nào! Dự họp ở đây cho ngang hàng hết. Mời đồng chí nói.
- Cháu...à, tôi đề nghị đập nhà chuyển xuống bờ hói rồi dùng thuyền...
Một chiến sĩ ngồi cạnh nói nhỏ: “ Được chiếc thuyền bằng cái lá tre của anh Tiêu, chở khi nào cho đầy?” Vân cúi nhìn bạn, cũng nói nhỏ: “Thì để tớ nói xong đã”, và ngửng lên, đôi gò má đỏ dậy, nói to:
- Trong hói không có thuyền thì khiêng ngoài sông vào!
- Phải! Phải! Ổn rồi! Ngoài cửa sông có hợp tác xã đánh cá Thống Nhất!
Ít khi Vi nói vội vàng, sôi nổi như thế. Hải lại cười to:
- Trúng tủ ông Vi rồi! Giao ông Vi về lo khoản vận chuyển thuyền, nhân thể ghé thăm mẹ thằng cu một chuyến.
Nhà hầm rộn tiếng cười. Hải tiếp:
- Phải đề nghị ông Vi thêm một khoản. Trước khi chở đá thì phải chở cá vào cho anh em!
- Báo cáo anh, không có kế hoạch thì chịu thôi ạ.
- Thì kế hoạch đây! Ông Tỉnh không ra được lệnh cấp cá à?
Rất ít cuộc họp bàn việc quan trọng mà kết thúc vui vẻ như thế.
Cuộc họp giải tán khi tiếng hò “dô ta này” và tiếng vồ nện thình thịch vọng vào làng. Giữa trưa, nắng rát, gió Lào thổi mạnh, gào lên, nhưng không át được tiếng vọng gan góc kiên nhẫn ấy. Được Vi đồng ý, anh em thợ cầu đã kéo quân ra trận địa giữa lúc tưởng nguy hiểm mà an toàn. Vì đó là lúc địch không ngờ.
Trước cửa hầm, Hải nắm chặt bàn tay có những ngón ngắn, đầy chai của Tiêu một hồi lâu. Hải đã gặp Tiêu, nghe anh báo cáo trong đại hội “Hai giỏi” năm trước. Lúc họp, Hải đã nhận ra, nhưng người thợ cầu giữa chỗ bom đạn thì xông lên trước trong phòng họp chỉ thích ngồi sau, nên Hải chưa hỏi han gì được.
Hải đi cạnh Tiêu; một người vừa to ngang, vừa cao; một người đã thấp, lại tròn, trông như hai bố con vậy:
- Anh em có khỏe cả không?
- Dạ, khỏe ạ...
- Ở trong lô cốt chắc là nóng lắm.
- ... Cũng không đến nỗi ạ...
Tiêu đi, đầu hơi cúi, giọng nói nghe khó khăn.
Trước sự quan tâm của Hải, Tiêu lại thấy lòng áy náy, ân hận nữa, khi nghĩ đến cái chết của Lưu. Chẳng ai trách, nhưng Tiêu cứ tự thấy mình có lỗi. “Anh em mình đã chậm tay hơn thằng Mỹ... Để nó cướp mất... Nói lý lẽ thì có khó gì; nhưng rồi nói thế nào với bà mẹ của Lưu?...” Mỗi khi nghĩ tới người mẹ không may ấy, Tiêu như cứ muốn nói một lời trách móc Lưu, người bạn xấu số không giữ được chữ “Trung” nên thành “bất hiếu”. Nhưng Lưu đã chết; chỉ có thể nói với người đang sống thôi...
Không hiểu nỗi lòng Tiêu, Hải vẫn nói cởi mở, vui vẻ:
- Thế nào? Đã vợ con gì chưa?
Một lát, Tiêu mới trả lời, giọng hơi buồn:
- Dạ...có rồi... Nhưng nhà em hy sinh cuối năm 65; lúc đi lấp hố bom... cháu bé nay đã hơn hai tuổi ở với bà ngoại...
- Thế mà mình không biết...Hải nói nhỏ, có ý ân hận.
Đằng sau, Vân bước đi nhẹ nhàng. Đất trời như chiều lòng người, đợt gió Lào chợt lặng đi, mặt đường cát mịn mềm mại khẽ lún xuống, để từng tiếng nói nguyên vẹn vọng về sau. “...Thế mà mình không biết” “ Đến nay em mới biết...” Đôi mắt Vân mở to, hàng mi rung khẽ, hai vệt sáng như bóng nắng lọt qua kẽ lá giữa cơn gió, lay động, rung rinh trong chốc lát rồi đứng yên. A, mà một vệt nắng thật; vệt nắng đậu trên vai áo xanh đã bạc của anh; một cánh bướm vàng sà trên miếng vá viền những đường chỉ nhỏ, đều đặn. “Cánh bướm” chợt bay đi. Vân giật mình ngước lên. Những cây dương bên đường bị bom chặt gãy. Nắng hè chói lóa tỏa tràn xuống mênh mông, mà sao như chỉ có hai vệt sáng, rất sáng và tinh nghịch rọi vào khuôn mặt nóng rực của Vân làm đôi má đỏ dậy? À! Bác Hải chợt quay lại, đang nhìn!
Trong giây lát, người cán bộ của tỉnh, như đã quên chức vị và những nhiệm vụ nặng nề đang gánh vác, nheo mắt cười, nụ cười hồn nhiên, nghịch ngợm thời trẻ trung xa xưa của ông. “Ồ! Lại thế nữa kia à! Các cô chú giỏi lắm!”
Hải bước chậm lại, nụ cười chưa tắt.
- Đồng chí “cháu” ở tiểu đội nào?
- Dạ, cháu ở A6 ạ.
Hải bỗng dừng bước, cặp mắt đang nheo cười, mở to. Những dũng sĩ giữ trận địa bom tọa độ ở ngầm K trên Trường Sơn suốt hai tháng ròng, chỉ là những cô gái bé nhỏ thế này ư? Có phải cô cùng đồng đội, trong một đêm mưa gió, đã đứng làm cọc tiêu dẫn lối cho xe qua đoạn đường bom vừa đánh nát? Đêm ấy, chiếc xe con chở Hải vừa vượt ngầm K, bom tọa độ lại dập xuống. Ngoảnh lại chỉ thấy khói mịt mù và màn mưa dăng kín. Những cọc tiêu sống có cái nào ngã xuống giữa trận bom?...
Vân không kịp giữ đôi chân bước đi như nhảy nhót của mình, nên đã đi cạnh Hải. Tiêu thì lúng túng, chẳng tiện đi trước ông Phó Chủ Tịch Tỉnh, nên rồi cũng thụt lại đi bên Hải.
Lặng một lát, Hải hỏi:
- Đêm các cháu đứng làm cọc tiêu đầu ngầm K, có ai hy sinh không?
Vân khẽ ngước nhìn Hải, vẻ ngạc nhiên. “Chị Lý đã đi báo cáo, nhưng hàng trăm trận chiến đấu, sao bác ấy nhớ được?”
- Dạ, A6 cháu có đồng chí Thu hy sinh...
Hình ảnh những cọc tiêu sống trên con đường ra mặt trận sẽ sống mãi trong tâm trí Hải. Cô gái đi cạnh mình, Hải cũng chưa biết tên:
- Cháu quê ở xã nào?
- Dạ, quê cháu ở đây ạ...
Tiêu góp lời:
- O Vân em anh Nam, con cụ Tám đấy bác ạ.
Vân hơi vươn người ra trước, ngoảnh nhìn Tiêu, giọng như gắt, nhưng đôi mắt mở to lấp lánh một nụ cười.
- Anh Tiêu! Ai bảo...
“À, cậu Tiêu!”. Hải nhớ người thợ cầu, nhớ lần anh cột dây vào người, lao ra giữa dòng lũ giữ nhịp cầu khỏi đổ, nhưng đã quên tên.
Hải lại như dừng bước, cúi nhìn Vân. Bây giờ thì Hải đã hiểu vì sao cô gái bé nhỏ này có thể đưa ra một ý kiến thông minh mà táo bạo như thế!
Trên con đường làng, giữa đôi hàng dương thẳng tắp đang reo trong gió, Hải vẫn đi giữa, Vân, Tiêu đi hai bên. Hải khắc sâu hình ảnh này và sẽ nhớ mãi hình ảnh những chiến sĩ bình thường giữ đường đi của Tổ quốc.
XV
Vân tỉnh dậy khi chị em còn ngủ say. Một vệt nắng chiếu xiên ở cửa hầm. Biết còn sớm, Vân định ngủ lại, nhưng không sao nhắm mắt được nữa. Ở cột hầm bên đầu, một con mọt cứ kẽo cà, kẽo kẹt mãi.
Chỉ mấy ngày nữa, Vân sẽ phải xa căn hầm chéo thân thuộc này. Vân sẽ đi xa, rất xa. Không phải đi vào rừng sâu, đi về phía nam. Vân đi ra phía Bắc, đi đến nơi mà Vân không hình dung được mảy may nào. Không phải Vân nằm mơ. Đúng ra, chiều nay, Vân cùng Phạm Văn Tín, Trần Đức Tâm phải vào Ty để đi học nước ngoài. Ba tháng trước, khi còn ở Trường Sơn, anh Hóa có bảo Vân và một số chiến sĩ đã tốt nghiệp lớp bảy làm lý lịch. Việc đó, dù chưa lâu lắm, Vân đã quên bẵng đi.
Hôm qua, đi họp về qua nhà. Vân thấy anh Nam cầm ống nghe máy điện thoại, nét mặt như sửng sốt. Ty triệu tập Vân, Tín, Tâm đi học. Đột ngột quá! Cụ Tám thì còn như nghi ngờ nữa. Nó cao xa quá! Người ta gọi nhầm tên chăng?... Ôi chao! Đi ngoại quốc, xuất dương! Ngày trước, suốt mấy chục năm, cả vùng này, chỉ ở làng Đông có một người! Một “cậu ấm” con quan!
Mới ngày nào, cụ còn mất ăn mất ngủ lo cho con dưới những chùm bom Mỹ; và hồi sáng, cụ còn đứng sững nhìn khói bom cuộn lên ở ngầm; rối ruột với những hồi chuông giục giã réo gay gắt. Cụ chẳng ngờ giữa những hồi chuông ấy, lại có hồi chuông gọi con cụ đi! Không hẳn là một niềm vui. Cụ cũng chẳng hiểu tâm trạng mình ra sao nữa. Cụ bàng hoàng, thảng thốt! Nó đi, cụ chẳng giữ được. Chắc là nó sẽ được sung sướng; nhưng ở nơi “đất khách quê người”, rồi ai dạy bảo, săn sóc nó... Công việc thì còn đang dở dang...
... Buổi chiều, Vân cùng Tín, Tâm lên Ban chỉ huy xin ở lại. Tất cả đại đội, cả dân làng, cả nước đang chiến đấu ác liệt, mình ra đi sao đành! Hóa đang giải thích cho ba chiến sĩ thì Vi đến. Vi nói: “Đây cũng là nhiệm vụ của thanh niên xung phong. Các cháu đừng tưởng là chỉ có đánh Mỹ mới phải chiến đấu giữ đường. Các cháu ra đi, rồi sẽ hiểu thêm...” Vân chưa bao giờ thấy bác Vi nói nghiêm trang như thế. Vậy thì Vân đi, nhưng ba anh em xin được ở lại đến ngày thông ngầm. Vi và Hóa đồng ý, vì giấy tờ chưa đủ và cũng chẳng còn mấy ngày nữa. Đến lúc đó, theo mấy chiếc xe chở đá ở đây đi lấy xăng, cũng kịp đoàn.
Với Vân, những ngày ở lại, thì giờ đi nhanh như cánh tên. Vụt một cái, đã tối. Chợp mắt ngủ một tí, bừng tỉnh dậy, thế là đã sang ngày khác rồi! Chẳng có cách gì kéo dài nó được!
... Tỉnh dậy, biết bao ý nghĩ đã đến với Vân. Nhưng rồi nhìn căn hầm tổ thợ cầu nhường lại, Vân bỗng nghĩ đến Tiêu. Chỉ lát sau, Vân bừng tỉnh. “...Thanh niên xung phong mà nghĩ vớ vẩn thế! Thôi ! Thôi! Nhất quyết không nghĩ đến nữa... Sắp phải xa tất cả rồi... Mai sẽ lên thăm mộ chị Lý...Không biết bà Nghi nhìn đâu mà bảo chị Lài lại sinh con trai... Mình đi học về, có khi chị Tí cũng đã có con bế. Bọ tha hồ vui... Còn mình thì...”
Hình ảnh người thợ cầu lại hiện ra. Vân muốn xua đi, không nghĩ đến nữa, nhưng nào có được. Nếu có xua đi chốc lát, nó lại “lẩn trốn” ngay trong tâm trí Vân!... “Không biết đứa con anh ấy là trai hay gái. Nếu là con gái thì thích hơn. Mình chẳng ngại...”
Vân nghĩ quá xa rồi! Dù chẳng ai biết, Vân vẫn thấy ngượng, đôi má nóng rực lên.
Rất khẽ, Vân ngồi dậy. Vân lặng nhìn từng chị em một lát, rồi lấy cuốn sổ nhỏ, bìa đỏ, trong chiếc túi treo ở vách hầm, ra ngồi tựa ván cửa. Vân lần giở những trang ghi trước đây, như để nhìn lại quãng đường đã đi từ ngày vào đội thanh niên xung phong. Vệt nắng chiếu xiên rọi sáng những trang giấy mang đầy những dòng chữ viết vội bằng mực xanh, bằng cả thuốc đỏ và bút chì. Chỉ mấy trang đầu, chữ viết nắn nót, đóng khung cẩn thận: sáu tiêu chuẩn đảng viên và lời dạy của các lãnh tụ...
Những trang giấy mang tia nắng sớm, lao xao lách tách bàn tay Vân, nghe như tiếng con chim non vẫy cánh bên dòng suối trong vắt chảy bên triền Trường Sơn. Vân đặt bút viết:
“... Chỉ mấy ngày nữa là phải xa tất cả rồi!... Anh Hóa bảo Đảng ủy đã duyệt, nhưng nào thấy quyết nghị về? Chị Lý ơi! Nếu em không được kết nạp trước lúc đi thì bao giờ mới là đồng chí của chị?...”
Chị em vẫn ngủ say. Đêm qua làm suốt sáng mà. Vân ra khỏi hầm. Sao mà vắng vẻ? À, phải rồi, bà con chắc đã dồn về những ngôi nhà xây gần hói. Bỗng có mấy tiếng nổ. Tiếng mìn phá tường nhà!
Hướng phía có tiếng nổ, Vân đi; nhưng được mấy bước, bỗng dừng lại. Ban chỉ huy đã cấm chiến sĩ đến chỗ phá nhà. Phải nghỉ ngơi, tối còn đi làm. Ra đông, chỉ thêm nguy hiểm.
Đắn đo chốc lát, nhưng rồi Vân đi. Ở đó, có ngôi nhà của Vân; có mái trường Vân học hai năm trước... Mà Vân sắp đi xa rồi, cần gì phải nghỉ ngơi. Vân đi, mỗi lúc một nhanh. Rồi Vân chạy, bàn chân lướt nhẹ trên đường đất cát mịn giữa hai hàng dương. Chưa kịp chải, những sợi tóc bay lòa xòa trước trán, bên má, bên tai Vân. Mớ tóc đen nhánh trong chiếc cặp bằng vòng thép bó cánh bom bi rập rờn trên lưng áo bạc màu...
... Từ chỗ sơ tán ở chân đồi, bà Nghi tất tưởi băng ruộng về làng. Vẫn vành khăn trắng, vẫn cái quần đen bên cao bên thấp với chiếc áo nâu bạc, để hở cả mảnh yếm trắng đục. Đi qua ngôi nhà cũ đã đổ sụp xiêu vẹo, mấy cánh hoa mướp vàng nở rộng trên chiếc giàn ọp ẹp và một mầm chuối vừa xòe lá non óng mượt như vẫy chào bà chẳng để ý. Bà phải tìm cho được Vựng đã.
Vừa “tóm” được ông bí thư, o Tí đã dẫn một tốp dân quân đến, định lôi Vựng đi. Bà không nhường, túm ống tay Vựng. Bà phải hỏi cho ra lẽ.
Từ trưa qua đến nay, có đến mấy cuộc họp. Vậy mà bà chẳng được ai vời đến. Nay cả làng dồn đi đập nhà chuyển đá, bà nằm ở chân đồi sơ tán sao yên. Làng xóm vẫn cho bà lạc hậu bo bo giữ cái nhà đổ ấy ư?...
Vỡ lẽ, Vựng cười khà, rồi nói:
- Nhà bà ở xa hói, chuyển đá ra tốn công. Bà lại có một mình, để bà ở nhà, không mời bà đi họp. Chỉ vì thế thôi!
Bà Nghi buông ống tay áo Vựng, gật gật đầu:
- Ờ...Ờ... Thế thì được. Nhưng nói trước với ông, cái nhà của tôi, coi như của trời đất rồi; cần cho việc làng việc nước, ông cứ lấy, khỏi phải hỏi.
Bà quay về, miệng lẩm nhẩm như đang cầu khẩn gì vậy, bàn chân đi đất dăn deo, lấm bụi giẫm lên những truyền đơn địch vừa thả hồi đêm; những mẩu giấy trắng toát bằng bàn tay, in hình một nhịp cầu gãy giữa khói bom mù mịt, phía trên là chiếc phản lực, phía dưới là những dòng chữ dọa dẫm và khuyên dân Bắc Việt Nam rời xa những con đường, cầu cống.
Bà không biết đọc, mà dù có biết, bà cũng chẳng thèm xem. Từ cuộc đời bà, bà đã hiểu...
Vựng vừa “thoát” khỏi tay bà Nghi, thì lại “vấp” cụ Tám.
Nhà cụ Tám không thật gần hói, một nửa đang có người ở, nhưng trong cuộc họp xã viên, cụ đăng ký hiến nhà đầu tiên, Vựng ghi tên nhưng đã nhẩm tính sẽ không đụng đến nhà cụ Tám. Thấy mìn nổ đầu trường học mà nhà mình vẫn yên, cụ tìm đến Vựng.
Biết ý, Vựng chào cụ từ xa, nhưng nói lảng:
- Nghe nói o Vân sắp đi học phải không cụ?
Cụ đứng lại cách Vựng vài bước chân, đưa mắt nhìn như để dò ý tứ người bí thư, rồi nói:
- Thông đường nó mới đi.
Đến lượt người bí thư phải dướn mắt nhìn cụ Tám, ngẫm câu nói sâu xa của cụ và biết là không có cách gì lảng tránh được.
Không nghe Vựng nói hết, cụ vặn lại:
- Vậy sao lại phá nhà ông? Nhà ông cũng còn một nửa...
- Nhà tôi khác cụ ạ.
Ý Vựng muốn nói mình là bí thư, lại là người đề xướng ra, lẽ đương nhiên phải phá trước. Cụ hiểu, và chính điều đó làm cụ tự ái:
- Vậy ra ông coi nhà tôi...
Cụ không nói hết ý, nhưng Vựng đã phải “chịu thua”, để cụ góp bức tường đầu hồi.
Cụ Tám xăm xăm dẫn tốp dân quân của Tí về nhà mình. Anh chàng đã trêu Tí trước nhà trẻ, lại cất tiếng oang oang:
- Này, o Tí ơi! O dẫn chúng tôi về phá nhà cụ Tám, không sợ mai kia anh Đông về, anh ấy quất cho à?
Tí bặm môi lườm anh chàng, bộ mặt bầu bĩnh đỏ ửng, chẳng biết đối đáp ra sao. Cô bạn Tí đi sau, cúi nhặt một cành dương gãy, vừa vụt vào lưng anh chàng, vừa nói:
- Thì quất này!... Xin phép chị Tí, được thay mặt anh Đông quất cho ông tướng này mấy roi!
Trong tiếng cười reo ầm ĩ của tốp dân quân, cụ Tám nói nhỏ, như chỉ để chỉ mình nghe:
- Thằng Đông nó còn trách, sao đến bây giờ...
Cụ nghĩ đến lá thư Đông mới gửi về. Nào Đông có “trách” gì, chỉ hứa “lập thêm chiến công cho xứng đáng với sự hy sinh đóng góp của bà con quê ta...” nhưng cụ cứ nghĩ gần, nghĩ xa, rồi tự trách mình. “Ờ, nếu như lo sớm được...”
Thằng phản lực trinh sát cánh nhọn hoắt bỗng từ biển xộc vào, đảo ngang dọc, nghiêng nghé dòm ngó. Cụ dừng lại. Ngón cái xòe ra ở bàn chân to bè của cụ như cong lên vì bấm sâu xuống đường, đôi đầu gối để trần hơi khuỳnh ra như người đang lên “tấn” vậy. Cái đầu húi cua của cụ hơi ngước lên, đôi mắt già khẽ nheo lại, để lóe ra luồng sáng sắc lạnh, giận dữ. “ Hừ! Dòm với ngó gì! Cho dù đỗ xuống, mày cũng không hiểu được đâu!...”
Tiếng mìn nổ “oành! oành!”; tiếng búa đập bồm bộp, tiếng xà beng xọc cành cạch dội lên từng lúc, rồi lặng đi. Tiếng cười nói râm ran, tiếng thở hào hển, tiếng hè nhau “hê! này!” quanh những chiếc xà beng chợt rộ lên.
Những bức tường gạch thanh mảnh, những bức tường xây bằng đá trâu thô dày, theo nhau rầm rầm đổ xuống.
Làng đã trống, trống thêm. Những mảnh vườn xơ xác vì nắng gió, bom đạn như rộng ra và người bỗng như đông đúc hơn. Các bà mẹ vấn khăn, bên các cô tóc cặp buông sau lưng. Đá nặng hai đầu, đòn gánh uốn cong oằn oặt trên vai mà tay đánh xa nhịp nhàng mềm dẻo như múa, bước đi thanh thoát bàn chân như chỉ lướt nhẹ trên đường. Vài cặp thanh niên khiêng đá trên băng-ca, xầm xầm lao đi, nện thình thịch, bụi quẩn mờ dấu chân. Tốp trẻ con quần áo cũn cỡn, chẳng ai gọi cũng đến, vai vác đá, nghiêng đầu, thoăn thoắt chạy.
Chỉ những cụ già là đứng một chỗ, đập lấy gạch đá từ những bức tường và xếp đống dọc bờ hói...
Chẳng có công việc gì, nhưng Hào cũng rời lô cốt về làng. Lần đầu, Hào đến với công việc đầy trách nhiệm. Hào chỉ thấy mình xúc động và như bị một sức hút kỳ lạ hấp dẫn. Hào đi một vòng quanh những ngôi nhà đang đổ xuống các con đường. Cái gì Hào cũng nhìn, mà lại như không thấy gì cả. Gạch đá vẫn theo những mạch ngang - những lối xóm, tụ về bờ hói. Từng hàng, từng hàng ngang dọc, ngược xuôi, như nối vào nhau, kéo dài, dài mãi... Không, không phải từ những lối xóm; từ đâu rất xa, trên núi đá; từ đâu rất sâu, tầng đất thịt gần lò gạch phía cuối làng; và không phải từ bây giờ, mà từ cái thời rất xưa, từng gánh, từng viên tụ lại... Ừ, có lẽ có những viên đá đời cha chuyển về, chưa xây được thành nhà, đã ngã xuống sau những năm dài lao động nặng nhọc, chuyền lại cho đời con... Những viên đá từ những bức tường nhà nồng ấm hơi người qua năm tháng, in dấu biết bao kỷ niệm. Những nét chữ bằng than, bút chì...nguệch ngoạc của thời thơ ấu; một ánh mắt nhìn, một tiếng “chim” hò hẹn lách qua khung cửa sổ... và còn sắc những chỗ vỡ vì mảnh rốc-két, lỗ chỗ vết sâu những viên bi tròn... Đã có ai tính cường độ và quá trình tích tụ, đông kết của những viên đá này? Và có chiếc máy nào đo được sức chịu đựng chính xác của nó? Những viên đá xếp thành ngầm, nâng cao con đường chúng ta đi!...
Hào đi, người thẳng đuột, lênh khênh. Nhiều bà con ngừng việc nhìn Hào. Cái bề ngoài như hờ hững, cái kiểu đi như người “vô công rồi nghề” lại gợi lòng thương cảm của dân làng. “Anh kỹ sư bị thương hôm trước đấy! Thức đêm, thức hôm; người thì đã gầy...”
Hào dừng bước ở nhà Vựng. Thời gian qua, nhà Vựng chia đôi, vợ và các con nhỏ ở chỗ sơ tán; Vựng ở lại ngôi nhà còn nửa mái như cụ Tám. Chị Vựng và thằng Hòa cũng chưa về; chị có con nhỏ được miễn, chỉ về “xem tí cho biết”; nhưng đứng một lát, chị và thằng Hòa đều góp tay đập cho vôi vữa rời từng viên đá. Nghe Hòa reo: “Chú Hào đến mẹ kìa” chị vội ngửng lên chào. Hào thấy như sửng sốt trước khuôn mặt đẹp, trẻ trung và nụ cười tươi tắn của chị. “Một nách mấy con nhỏ... Bom đạn, ngủ hầm, ngủ hố... Bao nhiêu thứ cực nhọc... Thật là kì lạ!” Sau đó, gặp Vựng ở bờ hói, chợt nhớ khuôn mặt ấy, Hào hỏi, giọng vui vẻ:
- Liệu năm bảy tháng nữa, tôi về lại đây, anh có “sản xuất” thêm được nhóc nào nữa không?
Vựng cười khà:
- Gớm nhỉ? Hôm nay ông kỹ sư lại tấn công mình. Chịu thôi! Chuyến này “cách li” rồi!...Còn anh thì khi nào cho tôi hút thuốc? - Vựng bỗng ghé tai Hào nói nhỏ - Này, tôi nói không phải, anh đừng giận nhé! Có bằng lòng, tôi làm mối o Vân cho. Nó cũng xinh đấy chứ! Văn hóa thì cũng hết cấp hai rồi!...
Không phải tự nhiên Vựng nhắc đến Vân. Vân đang đi gần lại. Hào nói được mấy tiếng “Thôi đi anh” rồi nín bặt. Trong giây lát, Hào mất hết vẻ tự nhiên. Vựng hỏi:
- Cháu sắp đi học phải không?
- Dạ, thông ngầm là cháu đi.
- Thế học ngành gì đấy?
- Nào cháu có biết... Cháu chẳng muốn đi đâu.
- Ấy, sao nói dại thế? Đi học đi, rồi về mà xây dựng lại làng nước. Nhưng mà Vân này, đi xa mấy thì xa, học nghề gì thì học, phải nhớ đường làng Hạ mà về!
Hai bác cháu đứng nói chuyện với nhau, Hào đứng cạnh, cảm thấy mình là người thừa, muốn dứt đi mà chẳng được. “...Mình cũng đang là một người thừa...Trong quan hệ này chỉ có hai người thôi. Mình là người thứ ba... Vô ích!...Không, mình sẽ là người có ích cho Tiêu. Mình sẽ giúp Tiêu. Mình sẽ nói. Vân sắp đi xa rồi mà Tiêu thì cứ im lặng...”
Cũng không phải bỗng nhiên Hào nghĩ đến Tiêu. Người thợ cầu vừa thoáng hiện giữa những ngôi nhà đang đổ xuống nâng con đường. Người thợ giúp Hào tìm thấy chỗ đứng của mình. Và Hào nói:
- O Vân này...
Vân đã chào Vựng, sắp bước đi, như giật mình ngoảnh nhìn Hào.
- Anh bảo em gì thế?
Hào cười, nhưng lại lảng tránh cái nhìn đó, như sợ đôi mắt tinh tường của cô gái trẻ đọc thấy nét gượng gạo trong nụ cười của mình. Tình cảnh Hào dễ gì mà vui ngay được.
- O Vân ạ, có người tìm gặp o từ sáng đến giờ...
- Ai? Anh chỉ bịa.
- Tôi nói thật đấy. Người ấy ở cùng chỗ với tôi...
Vân đỏ bừng mặt, quay đi và vội ngắt lời Hào:
- Thôi thôi! Em không nói chuyện ấy đâu. Anh mà cũng trêu em...
Ôi! Cái dáng điệu và giọng nói của Vân sao mà dễ thương, dễ yêu như thế! Nhưng phải nhất quyết thôi; Hào nói, mạnh dạn hẳn lên:
- Thì hẵng nghe tôi nói đã. Anh Tiêu tìm gặp cô thật đấy! Có thể rồi anh ấy chẳng nói gì đâu, nhưng...
Vân đã đi cách một quãng xa. Chợt nhớ Vựng đang đứng cạnh, Hào vội dừng lời. Vựng lặng nhìn Hào chẳng biết nói gì nữa. Câu chuyện đối với Vựng thật là bất ngờ. Một lát, Hào nói:
- Anh Vựng biết đồng chí Tiêu chứ? Bề ngoài như thế nhưng tôi chưa thấy ai tốt bằng. Thế mà anh cứ đùa tôi...
Hào lại cười. Lạ thay, có những nụ cười lại nở từ nỗi buồn riêng!
Thoạt mới biết tình cảm giữa Tiêu và Vân, Hào ngạc nhiên đến mức không muốn tin cả những nhận xét của mình. “Đời nào! Làm gì có chuyện lạ thế!” Nhưng từ nơi sâu kín nhất của lòng mình, Hào đã thoáng thấy khó chịu, chen lẫn một nỗi buồn. Như một cánh chim tưởng đã đậu yên trong lòng bàn tay mình, vụt bay đi. Như một tia nắng sưởi ấm lòng mình bỗng tắt lịm. Không, không hẳn như thế. Không phải Hào mất tất cả. Điều chính yếu là tình yêu cuộc sống gian khổ nơi đây vẫn ngày một lớn ở Hào. Tia nắng nhỏ sưởi ấm riêng lòng mình không còn nữa, nhưng Hào được tắm mình mãi mãi trong ánh mặt trời không bao giờ tắt. Và người thợ cầu mà Hào tưởng chỉ biết gan góc, chịu đựng, không ngờ còn có trí tuệ; hơn nữa, là một tấm lòng, một tình thương cao đẹp, thực sự đã chiếm được tình yêu của Hào. Phải rồi! Chỉ người thợ cầu ấy mới xứng đáng... Mừng cho Vân có một người yêu xứng đáng. Nếu Vân chưa nhận ra, mình sẽ nói cho Vân biết...
Hào bỗng thấy lòng thanh thản, nhưng mà buồn!
Cũng lạ thay, có những nỗi buồn mà lòng ta thanh thản!
Gần đến trường, Vân chợt thấy Tiêu phía trước, bụng nhủ thầm: “ Lại gặp anh Tiêu rồi! Tránh đi thôi!”, nhưng chân cứ bước theo hướng cũ. Một nỗi vui mừng lẫn sợ hãi làm đôi mắt vốn có cái nhìn trong trẻo, thẳng thắn của Vân hết cúi xuống, lại nhìn ngang, bối rối, vội vàng. Khi hai người đã đứng bên nhau cạnh một cây dương đầu hồi trường học, thì Vân đã bình tĩnh. Có gì mà phải bối rối, sợ hãi; việc gì mà phải tránh nhau; chung một đường, lại cùng nhịp đi, gặp nhau là lẽ tự nhiên, không muốn mà được sao?
- Anh có nhiệm vụ gì mà vào đây?
- O thì có việc gì mà cũng ra đây?
“Ồ! Thì ra anh Tiêu cũng đùa!” Vân thầm nghĩ. Hai người cùng cười, nhỏ thôi, nhưng rất vui.
- O Vân sắp xa anh em rồi nhỉ?
Vân thấy mình như rung lên. Giọng Vân nhỏ hẳn, như một hơi thở nhẹ:
- Sao anh biết?
- Tin vui của o cũng là của cả công trường, ai mà chẳng biết. Thấy Đảng lo cho tương lai từ bây giờ, cử người đi học, anh em càng tin chẳng mấy nữa mà thằng Mỹ phải xéo...
Tiêu nói chuyện vui, nhưng giọng không thật vui. Có phải niềm vui đã vương chút buồn của buổi chia tay?
Cả hai đứng lặng, chỉ ánh mắt thỉnh thoảng gặp nhau cho lòng thêm ngượng ngùng, bối rối. “Mình sẽ nói cho Vân biết, không, không nên...Tương lai Vân còn dài...” Tiêu không nói được nên lời, mà ánh mắt Vân thì như muốn bảo: “Anh đừng nói nữa. Em biết tất cả rồi!”
- Anh Tiêu ạ, đến nơi, em sẽ viết thư về cho anh...
Không phải trong tưởng tượng như giấc mơ đêm nào đâu. Vân đang nói, từng tiếng, rành rọt: - ...Nếu có ảnh của cháu, anh gửi cho em một cái...
Tiêu như bàng hoàng, chưa kịp nói gì thì Vẫn đã chào tạm biệt:
- Thôi, em đi đây.
Vân như vội vã. Có tiếng cười ai đó chợt vẳng đến. Và Vân như...”sợ” cả chính mình! Chao! Vân cũng không ngờ mình lại dám nói lên những điều đó. Lúc này, nếu như có một người mẹ, có lẽ Vân sẽ chạy ngay về, tựa vào mẹ, ấp mặt lên ngực mẹ, nhắm mắt lại, không nghĩ đến gì nữa cho lòng đỡ bối rối.
Vân lại bên những bức tường vừa đổ xuống, góp tay cùng dân làng chuyển đá xuống bờ hói. Hai viên đá chồng lên vai, cao hơn đầu, mặt đá nâu lấm tấm đá vữa xám nhạt, chưa thấm nắng, mát dịu, áp vào một bên má đỏ ửng, nóng hực dưới nắng hè. Một lát sau, tiếng hò “dô ta này!” và tiếng vồ thình thịch, gan góc, kiên nhẫn chợt vọng đến. Vân đưa mắt nhìn phía ngầm. “Anh ấy lại đã ra cầu!”. Phía ấy là cửa hói. Tối nay, những chiếc thuyền của hợp tác xã đánh cá Thống Nhất sẽ vượt qua con đê chắn nước mặn trên đôi vai những người đánh cá. Xa nữa, cồn cát khô trắng dưới nắng hè; những mảnh dương xanh đang ngày một lan rộng; những chấm đỏ - những túp nhà ngói sơ tán của bà con đánh cá. Xa hơn nữa, biển xanh.
Quanh Vân, những viên đá vẫn nối nhau tụ về bờ hói. Bà Nghi với vành khăn trắng, với chiếc quần đen ống thấp, ống cao và cánh nâu bạc để hở cả miếng vải yếm trắng đục, lại hiện ra. Bà gánh nước chè góp đựng trong đôi thùng bằng ống pháo sáng ra tiếp sức cho dân làng. Trời nắng như đổ lửa, nhưng không ai chờ nước nguội, cứ xuây tròn quanh thùng nước còn bốc hơi, vừa thổi, vừa uống. Bà Nghi đứng nhìn, tay cầm nón phe phẩy, trên bộ mặt nhăn nhúm bừng nở một nụ cười tươi tắn, thỏa mãn.
&n


