Logo Footer
Lorem Ipsum
Website title
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình. Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non. Cao Lao tiền thế đặt tên. Cao trông vời vợi, Lao bền không xiêu

Đường qua Làng Hạ (phần 7)

Tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Phê

 

Trăng sắp lặn. Gần sáng. Những chiếc xe, những chiếc thuyền lần lượt về nơi trú ẩn.

      Sau khi kiểm tra chỗ bà con đánh cá dìm thuyền che mắt địch, Vi trở lại xem cầu ngầm để báo cáo với Hải.

      Ngầm đã vươn sát vì cầu, chỉ còn lấp một hố bom nữa là xong. Hầu hết chiến sĩ đã về. Chỉ còn một số ít đang sửa mặt ngầm. Trong đó có Vân. Quần xắn quá đầu gối, áo dệt kim Đông Xuân gọn gàng và vẫn chiếc mũ nhựa có vòng lưới phơ phất những mẩu vải dù ngụy trang. Vi bảo:

      - Cháu về nghỉ đi; dành sức tối mai mà đi chứ!

      Vân “Vâng ạ”, nhưng vẫn cúi xếp lại một tảng đá to nhô lên.

      Ở cầu, việc còn lại là bắt nốt rầm dọc hai nhịp, lát ván mặt và lắp các “bàn chân” chống lún. Bái và năm cán bộ gián tiếp ở Đội cầu vừa ra tiếp sức trên chiếc xe chở rầm. Người “đội trưởng điện thoại” chỉ thích bận bịu theo việc “a lô! a lô!”, cuối cùng đã được Vi kéo ra trận địa.

      Những chiếc rầm trượt xuống xe, như những con cá khổng lồ, rẽ nước, lao dọc ngầm ra cầu. Có chiếc rầm cháy xém từng mảnh; có chiếc rải rác những vệt đen - vết lân tinh bám cháy ở gỗ; cũng có chiếc còn nguyên vạch phấn trắng - biện pháp anh em thợ dùng để xẻ gỗ ban đêm.

      Bái theo đẩy rầm, thỉnh thoảng ngửng lên, hớt hải hỏi các chiến sĩ dọc ngầm: “Các đồng chí thấy anh Nam đâu không? Thấy bác Vi, anh Hào đâu không?

      Ra cầu, gặp ba người, Bái quên cả việc chào hỏi, trút vội nỗi lo:

      - Ôi! Tôi tìm mãi! Dọc đường, cháy mất một xe chở rầm rồi!...

      - Thế nào? Lại cháy mất rầm à?

      Nam hỏi giật, tiếng khàn đi.

      Tốp cán bộ đứng lặng trong giấy lát. Anh em thợ làm xung quanh cũng ngừng tay, ngước nhìn chờ đợi. Vi quay nhìn Hào, hỏi:

      - Hào, liệu có cách gì không?

      Hào khẽ cắn môi, không trả lời. Vi bảo Nam:

      - Thôi! Cậu vào quay điện đề nghị Ty liên hệ bên lâm nghiệp xem.

      Nam đi được mấy bước, bỗng Hào gọi lại:

      - Anh Nam này, hay là ta bớt mỗi nhịp một rầm...

      Vi ngắt lời:

      - Ấy! Cậu mà cũng liều thế à? Sập xe tên lửa thì tù!

      Hào nói tóm tắt ý kiến “tăng ứng suất cho phép” cho Vi và Nam nghe. Thoạt nghĩ đến, Hào cũng cảm thấy mình đã liều, đã vi phạm quy trình kỹ thuật; nhưng nghĩ lại, Hào tin mình giải quyết đúng. Quy trình định ra trong điều kiện bình thường, tính sức chịu cho cả một thời kỳ dài, nên hệ số an toàn cao. Ở đây, không phải lúc để dành sức lực. Phải phát huy hết khả năng của nó. Mạnh bạo, còn bớt rầm được nữa.

      - Cậu Hào này, như thế thì ra không phải ở đâu con số cũng có giá trị như nhau...

      Hào ngoảnh nhìn Vi, một lát mới hiểu là Vi nhắc đến câu chuyện bên chiếc xe con ngày mới về làng. Hào cũng vui vẻ nói:

      - Vâng... Nhưng giá trị con số thay đổi vì ... được cộng thêm một số yếu tố khác.

      Vi cười thành tiếng, giọng sôi nổi hẳn:

      - Cậu vẫn “ngoan cố” lắm! Đồng ý với cậu là có yếu tố khác. Nhưng mặc nhiên cậu đã công nhận là sức mạnh vật chất có khi được tạo ra từ một yếu tố tinh thần.

      - Vâng. Anh “tấn công” thế thì em chịu thua rồi!

      Hào “chịu thua” cuộc trong tiếng cười của người chiến thắng.

      Khó khăn được giải quyết một cách đơn giản, bất ngờ, tốp cán bộ trong giây lát như trẻ lại, gần gũi nhau hơn, hể hả kéo nhau vào bờ. Không ai nói đến công việc nữa, chỉ tán chuyện tinh linh: chuyến thăm mẹ thằng cu của Vi: “Cái trống” của Nam lúc nào vỡ; o Vân đi học liệu có rơi lệ vì chàng nào không?...

      Bỗng có tiếng súng trường nổ. Đã hai hôm nay, để phát hiện máy bay nhanh chóng và hiệu lệnh truyền được xa, Nam cho đồng chí gác máy bay lên chỉ huy sở đơn vị pháo và được dùng súng báo động.

      Sau tiếng súng ấy là tiếng một cô gái khi trên trời cao nhoáng ánh chớp:

      - Bác Vi! Anh Nam! Bom bi rồi! Mau lên!

      Những việc xảy ra sau đó trong chớp mắt: Hào, Nam, Bái chạy vượt lên, nước tung tóe, các trận địa pháo sáng lựng, những chùm đạn hướng khoảng trời vừa nhoáng ánh chớp vùn vụt khỏi nòng; trông gần, những viên đạn sáng xanh lên. Vi chậm chân hơn, chạy đến hầm thì như đã thoáng nghe tiếng bom bi con xoay cánh trên đầu; rồi một cô gái lách ra cửa hầm; một cách tay kéo vai Vi; một tiếng kêu dù hốt hoảng nghe vẫn trong trẻo:

      - Vào mau bác!

      Cô gái đó là Vân. Vi cũng đã hiểu, căn hầm đầy người, thêm mình nữa là Vân phải ngồi ở cửa. Vi muốn lùi ra đổi chỗ, nhưng Vân đã ép sát vào và xung quanh, những ánh chớp nhỏ nhằng nhằng, rồi tiếng nổ hỗn loạn, choang choác của bom bi.

      Trong mùi thuốc cháy nồng hắc, tiếng Vân nghe như ngạt vì khói bom :

      - Có việc gì không bác ?... Chết ! Tổ anh Tiêu còn ngoài cầu...

      Vi chưa kịp trả lời, Vân đã reo lên, vẫn cái giọng như ngạt vì khói bom :

      - Ơ ! Máy bay cháy rồi !

      Một đám lửa biết bay, to dần, thấp dần, rồi đâm sầm phía những cồn cát.

      Những người ngồi trong đều muốn dồn ra cửa để được nhìn kẻ thù bị đốt cháy ngay trước mắt mình. Và bây giờ thì có thể ra được rồi. Vi nói nhỏ, giọng ấm áp như cha nói với con:

      - Cháu ra đi!

      Phía trong các chiến sĩ cũng giục:

      - Ra đi Vân!

      Nhưng Vân cứ ngồi dựa ván cửa, chỉ khẽ uốn mình, rồi nói:

      - Cháu... hình như cháu bị bom bi...

      Vi đã rõ tiếng của Vân là tiếng thều thào, chứ không phải ngạt vì khói bom và đã thấy ở mảnh áo trắng mờ bên  hông một vũng thẫm lại. Vi đặt tay lên đó, bàn tay run run bỗng nóng rực vì gặp tia máu từ ngực Vân bắn ra. Tiếng Vi như nghẹn lại:

      - Cháu bị... Nam ơi! Vân bị thương nặng lắm rồi!

      Một chiến sĩ xé áo lót roạc roạc phía trong mà Vi tưởng như ai đang cào xé gan ruột mình. Nhưng tiếng nói của Vân vẫn nhẹ nhõm, bình thản lạ lùng:

      - Bác đừng lo. Cháu bị nhẹ thôi mà... Xé áo làm gì. Hầm bên kia có xắc cấp cứu.

      Hầm có một cửa, lại hẹp, nên một lúc sau, Vi rồi ba chiến sĩ ở trong mới ra hết.

      Khi Nam và Hào lần vết thương, băng tạm cho Vân thì Vân đã dần mê. Tiếng Nam khàn hẳn, nhưng vẫn bình tĩnh:

      - Đầu băng đây. Cột chặt vừa thôi...Sao tay cậu run thế?

      - Không... Tôi chỉ...Nói vậy, nhưng tay Hào cứ run lên, mãi mới cột được hai đầu băng với nhau.

      Những người chưa kịp về, dồn quanh băng ca mỗi lúc một đông, mặc dù Nam và Hóa đã ra lệnh phân tán mấy lần. Trên băng ca, thỉnh thoảng Vân lại uốn mình và lắc lắc đầu, miệng lẩm nhẩm khi to, lúc như tỉnh, lúc như mê:

      - ...Chị Lý ơi! Em không làm tròn lời hứa với chị rồi...Chết! Tổ anh Tiêu còn ngoài cầu... Bỏ tay ra...

      Vân lo cho anh em thợ cầu, nhưng cả tổ vẫn an toàn. Máy bay nhào đến, thấy chớp lửa của bom-bi mẹ, biết chạy không kịp, anh em cứ ôm lấy cầu và chờ bom bi con rơi gần mặt nước, anh em tụt xuống sâu. Vào bờ, biết Vân bị thương, Tiêu chạy xô lại, nắm bàn tay Vân, tiếng kêu chìm trong nhịp thở:

      - Trời ơi! O Vân!

      Lần đầu, kể từ khi quen biết, Tiêu nắm bàn tay cô gái trẻ, như muốn truyền thêm sức sống cho cô.

      - O Vân ơi! O Vân!

      Tiêu cúi sát xuống, gọi mấy tiếng liền, Hào đang ngồi lặng bên băng-ca, giọng nói nghẹn ngào:

      - O Vân mê rồi. Không biết gì nữa đâu Tiêu ạ!

      Tiếng Vân khi to, khi nhỏ, lúc như tỉnh, lúc như mê:

      ... Bọ đừng gói bánh...Ăn liên hoan một bữa rồi em đi thôi... Ôi! Bỏ tay ra. Đừng buộc chặt thế...Thủ trưởng Hóa ơi. Mọi việc em bàn giao cho con Huyên đầy đủ rồi... Đừng, đã nói đừng buộc chặt thế... Anh Tiêu, sao anh biết... Em sẽ viết thư cho anh...

      Huyên về được nửa đường, nghe tin chạy trở lại, vừa gặp mọi người khiêng Vân về. Huyên gạt cả Vi mà cũng không biết, vừa đi theo băng-ca, vừa đưa tay vuốt những sợi tóc xòa trên mặt Vân và khóc hu hu:

      - Vân ơi! Huyên đây! Huyên đây! Có nhận ra không Vân ơi!

      - ... Ôi, buông ra... Em nằm yên đây mà... Việc gì mà khóc. Khóc là yếu đuối... Con Huyên về mất rồi...

      Cô tiểu đội phó Huyên vốn cứng cỏi, nay mặc mọi người can ngăn, cứ khóc hu hu, mỗi lúc một to và gọi “Vân ơi! Vân ơi!” Không dứt...

*

*    *

      Buổi trưa, chi bộ đại đội 19 làm lễ kết nạp Phạm Văn Tín. Tín được xét duyệt kết nạp trước khi đi học.

      Cùng dự lễ, có Vi và Nam. Gọi là dự họp, nhưng Nam không hiểu cuộc họp đã diễn biến như thế nào. Nam ngồi cuối nhà hầm, lần giở mấy cuốn sổ của Vân. Không thấy được nét mặt Nam. Chỉ thấy một mái tóc rối rũ xuống lặng lẽ. Quyển sổ con bìa đỏ nằm gọn trong đôi bàn tay to kềnh của Nam. Nam khẽ lật những trang giấy mang đầy những dòng chữ bằng mực xanh, bằng cả thuốc đỏ, bút chì và dừng lại rất lâu ở dòng chữ cuối cùng còn tươi nét mực: “Chị Lý ơi! Nếu em không được kết nạp trước lúc đi thì bao giờ mới là đồng chí của chị?”

      Nam ngồi yên, nhưng nỗi xúc động trong lòng chỉ chực thốt thành tiếng kêu: “Vân ơi! Em có biết không? Đảng ủy đã ra quyết định kết nạp em rồi! Em đừng buồn nữa...”

      Vân cũng được xét duyệt một lần với Tín, nhưng lúc này Vân còn nằm trong viện.

      Hồi sáng, mặt trời sắp mọc, nhưng Thìn đã xung phong lái xe vượt mười ki-lô-mét đưa Vân đến một viện quân y. Nam, Vi cùng theo xe, nhưng rồi phải cuốc bộ về trước, để Hóa ở lại. Tối, K5 đã đi mà còn bao nhiêu việc ở nhà. Khi hai người rời bệnh viện, Vân chưa tỉnh. Các y tá đang chuyền huyết thanh, thử máu Vân và những người tình nguyện hiến máu để tiếp cho Vân khi mổ. Đồng chí bác sĩ Viện trưởng, nắm chặt tay Vi hứa: “Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức mình...” Nhưng đồng chí y sĩ, không biết Nam là anh ruột Vân, đã trả lời bằng một cái chép miệng rồi lắc đầu: “Biết nói thế nào với đồng chí được?” Vi, Nam về nửa đường, gặp cụ Tám lầm lũi đi một mình. Không biết ai đã chỉ đường cho cụ. Mờ sáng, cụ sấp ngửa chạy ra thì xe đã chuyển bánh. Cụ nhìn theo xe, không nói một lời, thở dồn từng nhịp, bàn chân như giẫm lún cả mặt đường. Những người đang bàn tán xôn xao cũng im bặt, đứng lặng. Nhưng rồi cụ cất bước, theo hướng xe đi. Mọi người xúm lại, khuyên can, kéo cụ về. Ngồi nhà được một lúc, cụ “trốn” mọi người lần đi, lại bị Vi, Nam đưa về.

      Nam đã cố lấy nét mặt vui vẻ nói với cụ Tám: “Bọ đừng lo! Ngày mai thông xe rồi, con đèo bọ lên thăm”. Anh lục túi vải Vân vừa đem về nhà tối qua và cầm hai cuốn sổ của Vân sang dự họp.

      Nam gấp cuốn sổ nhỏ bìa đỏ và lần giở cuốn thứ hai. Nam không ngờ trong cuốn sổ cũ, không có bìa này, lại có một lá thư gửi đi: Bọ kính mến, chị Lài và cháu Sơn nhớ thương...” Đọc dòng chữ đầu và ngày tháng ghi trên thư, Nam đã hiểu là lá thư viết trên Trường Sơn; Vân không gửi về, vì vừa viết xong thì nhận tin bé Sơn chết.

      “...Con vẫn khỏe, công tác tốt, được đồng đội thương yêu vì qua những giờ sống chết, anh em đều có nhau, ôm ấp lấy nhau... Về sự phấn đấu của con thì còn dang dở; anh chị em họ cũng muốn con sớm đứng dưới lá cờ tiên phong của Đảng, điều đó con cũng rất mong muốn và hiện nay con chỉ mới đối tượng Đảng chứ chưa được kết nạp đâu. Con cũng đang đem sức phấn đấu để được vào Đảng, càng tăng thêm vững vàng cho hàng ngũ Đảng. Con hứa phấn đấu để đạt tới...

      Bọ ạ, bây giờ con nói qua chuyện khác nhé. Ở đây ngày nào máy bay cũng đánh phá, nhất là tuyến đường con phụ trách, rất gay go và ác liệt, hố bom chi chít, bom tọa độ ngày nào cũng xối xuống, cái chết và cái sống gần nhau lắm. Nhưng bọ ạ, chỉ có những người làm cách mạng mới mang tất cả những trái tim đầy dũng cảm để đem lại những kết quả cho Đảng, cho nhân dân. Dù có đổ máu, các con cũng không tiếc tuổi xuân, hy sinh đến giọt máu cuối cùng vì Tổ quốc, vì nhân dân. Ngày mai đất nước toàn thắng, chúng con sẽ trở về xum họp yên vui...

      Con cũng không có gì gửi về để giúp đỡ bọ, cũng chịu tệ với gia đình thôi...”

      Một giọt nước mắt rơi xuống, in dấu chấm tròn, nhòe rộng gần cuối trang thư. Nam lấy khăn lau mặt và khịt mũi mấy tiếng liền. Nam đã khóc và nỗi xúc động lại chỉ muốn thốt thành tiếng kêu: “Vân ơi! Anh có lỗi với em. Đến bây giờ anh mới thật hiểu. Anh vẫn tưởng em còn bé bỏng. Em thương quý của anh! Em không có gì tệ với gia đình cả. Em là đứa con xứng đáng nhất của gia đình ta...”

      Bên ngoài, tốp phản lực Mỹ nhào đánh trận thứ ba trong ngày. Chúng lượn vòng rất lâu mới lao xuống. Tiếng pháo “phập phập phập”, rồi tiếng bom lại rền cả làng Hạ. Nam đưa lá thư và cuốn sổ cho Vi rồi xin phép chạy ra ngầm. Không biết có quả bom nào trúng ngầm không? Tối, K5 đã đi rồi!

       Cũng như tất cả đảng viên trong nhà hầm, Vi nhìn theo Nam, lòng thoáng một nỗi lo. “Lỡ ra Nam... thì cụ Tám...” Nhưng có cách nào khác! Kẻ địch đang muốn chặt đứt con đường của chúng ta!

      Vi đọc lá thư và cũng như Nam, không cầm được nước mắt. Có thể nào đó là những lời trăng trối của Vân?

      Đáng lẽ, tối nay Vân đã lên đường. Vân muốn góp tay nâng con đường sẽ đưa mình đi xa. Vân muốn xếp lại một hòn đá nhô lên ở ngầm để đoàn xe đi êm thuận và không ai vấp ngã. Và một bức thành sống chắn bom Mỹ, che chở cho Vi!

      Trong cuộc kháng chiến lần trước, gia đình cụ Tám đã hy sinh một người để cứu sống Vi. Lẽ nào... Vi khẽ lắc đầu. Không! Không! Những người như Vân làm thế nào mà chết được! Vi nắm chặt bàn tay và lại như cảm thấy sức sống mãnh liệt từ bàn tay ấm áp của bác sĩ viện trưởng chuyền lan khắp cơ thể mình...

 

 

XVII

 

     

      Đúng mười một giờ đêm, Tiêu xiết chặt chiếc ê-cu cuối cùng ở chân cột cầu.

      Có cần phải kể gì nhiều về những trận đánh của chúng nó trong mấy giờ cuối của công trình?

      Hãy nói trước hết đến số phận thằng trinh sát cánh nhọn hoắt đã nhiều lần đảo ngang dọc, nghiêng nghé dòm ngó trên bầu trời làng Hạ. Nó đến quãng ba giờ chiều. Nó đã không hiểu gì được trong những ngày trận địa im lặng, nay mò đến, lúc chúng ta căm giận thét lên lời. Chiếc phản lực trúng đạn, lật lật như chiếc lá rụng ngay loạt pháo đầu. Thằng giặc lái rơi phía làng Trung.

      Nam xách súng trường chạy đón bắt thằng giặc khi chiếc dù vừa bật khỏi máy bay; nhưng Nam đến nơi, các đồng chí bộ đội và dân quân làng Trung đã lột mọi thứ trang bị dùng để giết người, để kiếm sống, để ăn xin của nó rồi. Nó tên là Smith (bà con thì gọi là “xơ-mít”), lon đại úy, quê chính ngay Hoa-thịnh-đốn, thủ đô Hoa-kỳ.

      Hai năm qua, đã bao lần Nam ao ước được cầm súng bắn thẳng vào mặt thằng Mỹ cho hả lòng căm tức; nhưng nay nó ở trước mặt đó, Nam chỉ chống súng đứng lặng, bàn tay bóp chặt khẩu súng nổi gân chằng chịt mà run lên. Bỗng một bàn tay đặt nhẹ lên cánh tay Nam, Bàn tay Vựng. Biết tính Nam, Vựng lo Nam nổ súng. Nhưng Nam đã khoác súng lên vai, nặng nề và rung lên:

      - Các đồng chí không giải hắn đi ngay rồi không còn nguyên xác mà chôn đâu!

      Các đồng chí bộ đội cũng đã hiểu những mất mát của dân làng, nên sau khi băng tạm cánh tay trái bị gãy của nó, chụp cho nó một cái nón rách, chặt một tàu chuối quàng lên vai nó, là giải đi ngay. Việc đó, làm không ít bà con bất bình. Cụ Tám cũng vậy. Không phải vì cụ không được băm vằm vào mặt thằng cướp. Đã đành, tội của chúng, đáng với mọi sự trừng phạt; nhưng để cho nó sống, các anh bộ đội còn hỏi tội nó. Cụ chỉ muốn nhận cho rõ mặt, để mà nhớ, nhớ đời cái bọn đã giết đứa cháu nội của cụ; và con gái cụ thì nay cũng chưa biết sống chết ra sao.

      Bà Nghi cũng muốn nhận mặt cái bọn ma quỷ đã cướp hết những người thân trong gia đình bà. Bà tìm đến nó với chiếc đòn gánh tre. Bà không đập chết, nhưng bà nhất quyết phang một cái vào giữa mặt nó cho hả lòng căm giận, cho thỏa vong linh những người đã khuất. Nhưng bà chạy về làng, thì nó đã ra đến đường cái; bà chạy ra đến đường cái, thì nó đã đi xa về phía núi đá rồi!

      Thằng giặc đi, gầm mặt, mắt lấm lét và bước nhanh, thỉnh thoảng đưa cánh tay phải lông lá níu tàu chuối rách xơ vì gió Lào, che kín thêm cái xác ục ịch nhơm nhớp mồ hôi. Nó sợ, sợ tất cả. Và sợ nhất là con đường hắn đã liều mạng lao xuống dòm ngó, đồng bọn hắn đã vãi đủ thứ bom đạn hòng xóa đi. Hắn không dám đi giữa đường, cứ men rãnh lê bước.

      Thằng giặc chưa đi khỏi núi đá, một tốp bốn “Thần Sấm” đã lao đến. Buổi tối chúng mò đến ba lần nữa, nhưng đều bị pháo bắn dạt ra. Đêm nay, tất cả các trận địa đã nổ súng. Đơn vị cao xạ đi với đoàn tên lửa đến bờ bắc đầu đêm, cũng nổ súng phối hợp chiến đấu ngay trên mặt đường. Từ chiều, đồng chí thủ trưởng đơn vị pháo đã nói với Vi:

      - Các đồng chí cứ vững tâm làm. Hôm nay chúng tôi sẽ đánh mạnh. Cốt là giữ được con đường của chúng ta.

      Từng chùm đạn pháo vùn vụt khỏi nòng, chụm lại, đan chéo vào nhau và hoa lửa nở  xòe kín một vùng trời cao. Chúng nó sợ, lũ cướp trời sợ chết không dám xông vào nữa. Chúng gọi bọn cướp biển. Quãng mười giờ đêm, quả đại bác đầu tiên nổ trên hói làng Hạ. Một thuyền trong chuyến đá cuối cùng bị chìm ngay bên ngầm. Bỗng từ phía biển, cặp tiếng nổ dội vào khác đi. Tiếng đầu to, tiếng sau nhỏ hơn.

      Pháo bờ biển của ta lên tiếng! Dồn dập!

      Những người dân đánh cá ở hợp tác xã Thống Nhất đã đem rầm phản lát đường kéo pháo trên cát, biết trước việc đó, nên thuyền vẫn rẽ nước lao lên reo hò dậy cả con nói khi pháo ta nổ.

      Chúng nó sợ, lùi xa, xa dần. Vài quả đạn vớt vát rơi ở cửa hói rồi câm bặt. Chúng nó co vòi tháo chạy.

      Chúng ta thì cả lúc im lặng, cũng như khi căm giận thét lên lời, chúng ta đều bám giữ con đường chúng ta đi, đều vì con đường chúng ta đi!

      Bốn người trong chiếc thuyền bị chìm đã lội lên mặt ngầm. Có một cụ già. Chiếc quần đùi, cánh áo ướt sũng. Trăng mười hai rất sáng, trông rõ mái tóc húi cua dù ướt, vẫn dựng lên cứng cỏi. Không nói một tiếng, cũng không nhìn ai, cụ cứ đi dọc ngầm, bàn chân to bè có ngón cái xòe ra và cong lên như lúc nào cũng lo bấm giữ trên đường, lần đi trên những viên đá mà bàn tay con gái cụ đã sửa lại cho phẳng đêm trước.

      Đến cầu, Nam và Hào trông thấy, hốt hoảng mời cụ về nghỉ. Cụ nói, không phải gắt, mà gằn giọng:

      - Mặc tao! Nghề mộc tao quen, có việc gì bảo tao!

      - Thôi! Con van bọ! Bọ về đi!

      Nhưng cụ tìm đến Tiêu. Tiêu đành phải bố trí việc giẫm lên vai mình cho cụ.

      - Không! Việc ấy thì tôi không làm được. Ai lại...

      Cụ nói nhỏ, mà tai Tiêu đã gần điếc vì đạn đại bác nổ lúc Tiêu còn ở dưới nước, nên không nghe gì, giục cụ:

      - Con xuống đấy, bọ giẫm lên đi!

      Cụ đã hiểu, lần theo cột, giẫm lên vai Tiêu. Ôi! Cụ không ngờ lại có những việc làm như thế này! Nhưng thôi, nghĩ ngợi làm gì; K5 sắp qua, những quả đạn to hơn cột nhà, anh Hào nói là bay lượn được trên trời đuổi phản lực, B.52 Mỹ sắp qua. Và để giữ con đường chúng ta đi thì dù đôi vai có mang nặng mấy, dù phải ở thấp chẳng ai nhìn đến cũng vẫn vui lòng.

      Chợt có tiếng còi ô tô từ phía núi đá vọng ra. Còi vang từng nhịp, liên hồi: pi-pi-pi, pi-pi-pi... Suốt dọc ngầm, dọc hói, mọi người ngừng tay, ngửng lên và cùng reo:

      - Về rồi! Về rồi! Xe anh Thìn về rồi!

      Từ chập tối, mọi người đều mong, nhưng chẳng ai nói ra. Và biết đâu... Nhưng nay nghe tiếng còi vui rộn thì mọi người như trút được gánh nặng.

      Thìn phóng xe sát mép nước, phanh két lại, mở tung cánh cửa:

      - O Vân tỉnh rồi! Sống rồi!

      “O Vân tỉnh rồi! Sống rồi!”, mấy tiếng ấy lan đi, vang xa, ngân mãi.

      Tiêu ở dưới nước lên, ngơ ngác hỏi cụ Tám:

      - Gì thế bọ?

      - Con Vân sống rồi! Cụ Tám nói nhỏ chậm rãi. Cụ biểu lộ niềm vui mừng cũng trầm lặng như khi tỏ nỗi buồn lo.

      Chiếc ê-cu cuối cùng đã được Tiêu xiết chặt. Nam, Hào lên xe Thìn qua bờ bắc, vừa để thử cầu ngầm, vừa để báo cho K5 đi. Thìn được chọn làm việc vinh dự ấy vì xe 176 của Thìn đạt năng suất cao nhất.

      Trăng vẫn rất sáng. Nước hói nổi sóng, cuộn lên, reo lên, lấp lánh ánh trăng khi bánh xe qua. Hai bên ngầm, những tấm bảng gỗ sơn trắng bằng bàn tay, xếp hàng thẳng tắp đều đặn, theo hai sợi dây thép căng dọc ngầm, thỉnh thoảng lại đu đưa theo từng  đợt gió. Đầy là phần đóng góp của Liên, Hòa và các em học sinh trường cấp hai.

      Xe qua cầu, Nam, Hào đều thấy Tiêu ngồi trên đà - chắn - bánh - xe. Hào gọi, nhưng Tiêu lắc đầu. Tiêu thích ngồi đây, lắng nghe nhịp cầu rung chuyển. Xe qua, nước dềnh lên, sóng nước lấp lánh ánh trắng vờn đến tận ngực Tiêu.

      Mười một giờ ba mươi phút, K5 qua. Thìn dẫn đầu, bóp còi inh ỏi và reo lên trong buồng lái. Nhưng qua gần hết ngầm, chiếc xe bỗng lúng liếng, như đá mặt ngầm bị lún xuống bùn, nghiêng đi. Nam bíu chặt thành xe, định hỏi Thìn thì xe đã đứng ngắc lại, bánh trước suýt tượt khỏi đường ngầm, “ba-đờ-xốc” quệt vào dây thép, những tấm bảng gỗ sơn trắng bảo hiểm chao như đưa võng. Nam thét lên:

      - Thìn! Sao thế?

      Không có tiếng trả lời; chỉ nghe tiếng gọi giật của người phụ từ buồng lái vọng ra:

      - Anh Thìn! Anh Thìn!

      Nam trèo xuống, đứng bên cạnh, mới biết Thìn gục mặt vào vòng tay lái. Đoàn xe dài dằng dặc phía sau phải dừng lại đột ngột, tiếng rú ga náo động cả một vùng. Thìn bỗng ngửng lên, dựa vào đệm, nói nhỏ:

      - Em bị chóng mặt tí thôi...

      - Anh Thìn tiếp máu cho o Vân đến hai lần anh Nam ạ.

      Trong ánh đèn pin sắp tàn của người phụ, nhìn nét mặt Thìn nhợt nhạt, Nam bỗng thấy mũi mình ngạt đi trong chốc lát và nước mắt rưng rưng, nhưng giọng nói khàn khàn lại như gắt lên:

      - Chết! Thế sao cậu lại liều đánh xe về?

      - Em tưởng không có việc gì... Thôi, anh trèo lên đi.

      Nam cứ đứng bên bậc cửa, người phụ lái thì dịch sát, thêm chỗ dựa cho Thìn. Thìn bóp còi, chiếc xe lùi một quãng ngắn rồi trườn lên bờ, nép một bên đường.

      Đoàn K5 lại rùng mình chuyển động. Những chiếc xe kéo pháo cao xạ, hết loại bánh lốp, đến loại bánh xích. Mãi mới đến những xe đuôi dài, chỉ có đầu xe, không có thùng xe. Gió Lào đã lặng dần nhưng vẫn còn đủ sức căng phồng tấm bạt khoác ngoài tên lửa.

      Sợ những chiếc xe dài quệt phải, Tiêu rời đà-chắn-bánh-xe, tụt xuống, đứng lên một xà-đầu thò ra ngoài mặt cầu. Khi chiếc xe chở tên lửa đầu tiên đi qua, Tiêu bỗng cảm thấy đôi vai bị đè nặng, người hơi rùn xuống, như là những chiếc xe đã đi qua trên vai mình vậy. Tiêu ngước nhìn quả tên lửa nằm chếch trên xe và chợt nghĩ, nếu nó bay lên vừa bắt gặp mặt trăng lúc này đã nghiêng phía đồi thông. Những quả tên lửa không bay lên, cứ lần lượt đi qua; nhưng Tiêu thì như bay lên rồi, bay lên mặt trăng. Không, Tiêu chỉ bay lên dãy chân núi phía sau đồi thông. Nơi đó, một cô gái băng trắng quấn quanh người, đôi mắt mở tròn, trong suốt, đang ngóng tiếng xe rầm rì, tiếng con đường rung chuyển. Tiêu bỗng nghe trong tiếng sóng cuộn reo quanh mình, một tiếng nói nhỏ, nhưng rung động, ngân mãi trong lòng. “O Vân ơi! O có biết không? Một đoàn tên lửa đang qua cầu, qua ngầm của chúng mình...”

      Thôi, còn phải nói gì nhiều về chuyện K5 đi nữa. Con đường chính thông rồi, tất cả sẽ đi qua. Hãy gặp lại những người ta quen biết chút nữa, sau giờ K5 đi.

      Trước hết là bà Nghi. Để bảo đảm an toàn, dân quân đã được lệnh ngăn không cho dân làng ra xem xe đi. Có cả các đồng chí cảnh sát mặc áo vàng cùng làm nhiệm vụ. Nhưng bà Nghi đã lọt lưới với chiếc rổ bên hông. Gần đến ngầm, bắt gặp Vựng và cụ Tám, bà lánh vội. Bà lo Vựng lật rổ xem thì ngượng chết. Bà theo lối mòn lên lô cốt.

      Trong lô cốt, lúc này đã đông người. Nam đang nói chuyện với Hải qua điện thoại :

      - Vâng ! K5 đã qua an toàn rồi anh ạ... Vâng! Lúc nào cũng sẵn sàng anh ạ. Anh cho đi thật xa ấy!

      Nam nói lại với anh em lời khen ngợi của Tỉnh ủy, giọng khàn khàn nhưng rất vui. Còn điều Nam không nói ra là Hải lại báo tin sắp có “đột xuất”. Nam bỗng nghĩ tới Đông, tin là rồi sẽ được gặp đứa em trai ở nơi xa ấy...

      Bà Nghi rụt rè bước vào lô cốt, đặt rổ xuống sàn, giọng nói hơi lúng túng:

      - Chẳng có gì, đem củ khoai các anh ăn cho đỡ đói.

      Tiếng cười chợt rộ lên. Bà Nghi lại bên Nam, giọng nói bỗng vui hẳn:

      - Anh biết chưa? Con Lài sinh rồi! Con trai ! Thằng bé to lắm !

      Nam vụt đưa bàn tay nắm lấy cánh tay bà Nghi, định reo lên nhưng rồi kìm được. Ôi! Cái mầm sống đêm nào còn phập phồng dưới bàn tay Nam, nay đã thành một con người! Một đứa con trai!... Thằng Chính! Phải! Đặt tên cho nó là Chính! Rồi sau này kể cho nó nghe.

      Những ngón tay thô cứng của Nam xiết chặt ống tay gầy guộc của bà Nghi tự lúc nào, Nam cũng không biết...

      Ngoài đường, nối sau K5 là một đoàn xe tải. Hào đứng đầu ngầm, chợt nhớ đến ba chiếc mô-nô đòi đường đi và anh tài quê Thái Bình đêm nào. Chẳng biết có trong đoàn xe này không? Nhưng cần gì điều đó. Đoàn xe nào chẳng vậy. Ai chẳng muốn theo con đường chính, con đường ngắn nhất để đi tới đích... Đoàn xe tải không dừng, chỉ gởi lại lời chào trong tiếng máy rú ồn ã.

      Cũng ở đầu ngầm, ba chiếc xe chở đá sắp đi lấy xăng. Tín và Tâm đã đứng trên thùng xe. Cả hai đều nhìn về phía đồi thông, lặng lẽ, nhưng lòng nao lên vì nhớ thương, vì muốn bày tỏ nỗi niềm với những người đã khuất. “Chúng tôi nhớ... Chúng tôi hứa với các đồng chí...” Vi nhìn hai chiến sĩ, đắn đo. “Có lẽ chẳng cần phải dặn gì nữa. Chúng nó đã chiến đấu ở đây, lại là những đảng viên, chúng sẽ hiểu là phải tiếp tục sống như thế nào...”Nhưng rồi Vi đã đến bên xe. “Không! Phải nói! Vẫn có người chóng quên. Phải nhắc chúng nó, dù ở xa Tổ quốc, dù được sống sung sướng hơn, cũng phải luôn nghĩ tới những người đã khuất, nghĩ tới con đường làng Hạ. Phải giữ đúng con đường mình đã đi...” Vi nghĩ nhiều, nhưng chỉ nói:

      - Các cháu đi mạnh khỏe. Cố gắng cho xứng đáng với đồng đội ở nhà. Đừng quên anh em, đừng quên đường làng Hạ...

      Hào lại bắt tay hai chiến sĩ và dặn Tín:

      - Nhớ nhé! Đến Hà Nội nhớ bỏ thư cho mình.

      Hào đã viết một lá thư dài, vậy mà bây giờ vẫn thấy thiếu; có việc rồi còn phải “đính chính” nữa. Hào đã viết là nhất định sẽ gặp thằng Hùng trong K5, nhưng rồi không gặp. Nhưng thôi, dù sao thì Hào cũng đã nói được điều cốt yếu để bố an tâm là Hào đã vững bước trên con đường lớn của cuộc đời, và như thế thì cũng coi như là Hào đã gặp được em trai, gặp được cả bố nữa... Thư sau, sẽ kể cho bố nghe những việc vừa xảy ra trong đêm nay, sẽ kể cho bố nghe chuyện o Vân nữa...

      Đêm đã khuya. Trăng nghiêng gần đỉnh đồi thông. Những cây thông đứng thẳng, xếp liền nhau, lên cao dần cho đến tận đỉnh đồi...

 

 

      ... Chiều 17 tháng 9 năm 1967, ... hồi 17 giờ 03’, một tốp máy bay B.52 của giặc Mỹ đến xâm phạm vùng trời Vĩnh Linh, với tinh thần cảnh giác cao, bộ đội phòng không của ta đã kịp thời nổ súng, bắn tan xác một chiếc ngay khi chúng chưa kịp gây tội ác. Tiếp đó, 17 giờ 34’ giặc Mỹ lại liều lĩnh cho một tốp máy bay B.52 khác đến ném bom xuống các vùng dân cư Vĩnh Linh... Một chiếc máy bay B.52 nữa đã trúng đạn nổ tung.

      Đây là những chiếc máy bay B.52 đầu tiên của giặc Mỹ bị quân và dân ta bắn rơi trên miền Bắc...

 

                                                                        (Trích báo “Nhân dân” số 4910

                                                                           ngày 20 tháng 9 năm 1967)

                                                                        Quảng bình, mùa gió Lào 1968

                                                                             Hà Nội, tháng 5-1973

                                                                            NGUYỄN KHẮC PHÊ

 

 In 8.200c tại Nhà máy in Tiến Bộ - Hà Nội, 175 Nguyễn Thái Học.

Khổ 13x18.8. Số XB 09/TN. Số in: 1586. In xong ngày 5/3/1976.

Nộp lưu chiểu 3-1976

Tác giả: Nguyễn Khắc Phê

0 / 5 (0Bình chọn)
Bình luận
Gửi bình luận
Bình luận

    Video mới nhất

    Bản hùng ca trên sông

    Hình ảnh mới nhất

    Một số hình ảnh lễ cúng Cồn Cui 2026

    Thống kê truy cập

    Hôm nay: 7220

    Trong tuần: 7220

    Trong tháng: 20208

    Tổng số: 13284491

    Đang online: 84

    quan_ly_thong_bao