Tác giả PGS.TS Võ Chí Chính
TUỔI TRẺ VÀ KÝ ỨC CHIẾN TRANH
Phần 1: Lúc ở làng quê chưa sơ tán
Mình sinh ra và lớn lên trong những năm tháng chiến tranh. Quê mình là tuyến lửa, bởi vậy tuổi trẻ của mình không thể tách rời khỏi những năm tháng ác liệt và gian khổ nhất của đất nước.
Năm 1964, sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, Mỹ bắt đầu leo thang bắn phá miền Bắc. Những ngày đầu, máy bay từ Hạm đội 7 bay vào rất thấp, thấp đến mức tưởng chừng có thể nhìn rõ mặt phi công. Chỉ đến khi ta đưa pháo cao xạ 37 và 57 ly vào Quảng Bình, máy bay địch mới buộc phải bay cao hơn. Hồi ấy, mình còn có thể phân biệt được các loại máy bay như F4, F4H, F105, A37 và B52, thậm chí nhớ cả cách chúng thả bom.
Mỗi lần máy bay xuất hiện, hễ ai có súng là bắn, bắn loạn xạ lên trời, dù ai cũng biết súng trường thì khó lòng vươn tới. Hợp tác xã còn tổ chức một trạm phòng không ngay trên nền đường tàu cũ, trang bị vẻn vẹn một khẩu trung liên.
Quê mình lúc bấy giờ là trọng điểm đánh phá ác liệt vì nằm ven sông, cây cối um tùm và gần cầu Mỹ Trạch. Nhiều kho đạn, kho lương thực được bố trí tạm thời, rải rác trong vườn nhà dân. Những cây cầu, con đê hay các làng mạc rậm rạp – nơi địch nghi ngờ có kho tàng hoặc bộ đội trú quân – đều trở thành mục tiêu của những trận mưa bom dồn dập. Bất cứ cây cầu nào, dù nhỏ đến mấy, xung quanh cũng chi chít hố bom. Lạ kỳ thay, bom nổ rất nhiều nhưng không có quả nào rơi trúng cầu cả.
Giữa chiến tranh, mạng sống là điều quý giá nhất, không ai tiếc bất cứ thứ gì. Những cây ăn quả to, quý trong vườn đều bị đốn hạ để làm hầm tránh bom. Có những đêm bom bi – nay gọi là bom chùm – rải dày đặc, nổ chát chúa ngay trên hầm, trong vườn nhà. Sáng ra, nhìn thấy lá cây nát bươm, tan tác khắp vườn. Dân quân lại đi nhặt những quả bom chưa nổ còn sót rải rác. Những năm tháng tuổi thơ của mình gắn liền với những giấc ngủ trong hầm ẩm thấp, tối tăm.
Một buổi chiều nọ, khi máy bay lại ập đến đánh phá, những tiếng nổ vang lên rất gần. Một quả bom rơi trúng góc vườn nhà ông Ngùy, cướp đi sinh mạng anh Chanh – con trai ông. Tiếng khóc xé lòng của người thân hôm ấy đến nay vẫn còn ám ảnh mình. Sau này, trong làng còn nhiều cái chết nữa, nhưng cho phép mình không kể, vì chúng thường rất bi thương và đau đớn. Mỗi lần như vậy, trong tâm hồn non trẻ của mình là nỗi sợ hãi và hoang mang đến tột cùng.
Thời gian ấy, mỗi khi bố mẹ vắng nhà, hai chị em mình phải trông nom nhà cửa và em gái còn nhỏ. Giữa vườn tược mênh mông, rậm rạp, trong không khí chiến tranh bao trùm, nỗi sợ hãi và cô đơn luôn thường trực. Khi em ngủ, hai chị em lại dắt nhau ra đường chơi cho đỡ buồn. Có lần chị rủ các bạn hàng xóm sang chơi và hái thanh trà mời, nhưng vừa phát xong thì tụi nó kéo nhau về hết. Hai chị em đứng ngẩn ngơ, lòng càng thêm trống trải.
Lúc bấy giờ anh trai đầu đi học nơi sơ tán phương xa. Tất thảy đều trông vào sự che bọc của xã hội; ở nơi đó anh ăn ở thế nào, có áo quần để mặc, sách vở để học hay không, mình hoàn toàn không biết. Còn anh hai, có lẽ đi chăn bò nên ít ở nhà, vì thế mình cũng không nhớ nhiều. Nhưng dù thế nào, mình vẫn rất thương hai anh, thương lắm – vì những năm ấy luôn phải xa nhà trong cảnh chiến tranh.
Chiến tranh, rủi ro có thể ập đến với bất cứ gia đình nào. Để đề phòng, bố mẹ thường chọn mình đưa đi ngủ nhờ nhà người khác: khi thì nhà anh Kiền bên đường Quan, khi thì sang nhà bác Nghính. Một lần ở nhà bác, tiếng máy bay gầm rú sát trên đầu, bác quát hai anh em mình cùng anh Nghính xuống hầm. Vừa bước ra đến sân thì một quả bom nổ ngay trước nhà, khoảng cách chưa đầy mười lăm mét. May mắn nhờ ụ đất đắp cao che chắn, hai anh em mình thoát chết trong gang tấc.
Nghe tin bom nổ trong vườn nhà bác Nghính, bố mình từ nơi sơ tán vội vã chạy về. Đến góc vườn nhà bác, bố gọi thất thanh:
“Chính ơi!”
Mình đáp lại. Bố mừng rỡ chạy vào, bế mình lên rồi chạy một mạch trở lại nơi sơ tán. Từ đó, bố không bao giờ cho mình về làng nữa.
Sau này nhìn lại cái hố bom to tướng và khoảng cách từ đó đến sân nhà, mình không hiểu sao mình và anh ấy có thể thoát nạn. Và cũng có vài lần tương tự như vậy về sau. Trong chiến tranh, may mắn thì bom tránh người, chứ người biết bom ở đâu mà tránh cho được.
Có những lần mẹ dắt mình về vườn, có lẽ do không ai trông. Làng quê lúc ấy mọi nhà đã sơ tán, vắng lặng đến lạ thường, con đường cỏ mọc um tùm, thi thoảng tiếng chim hót đâu đó vọng về. Vì máy bay có thể ập đến bất cứ lúc nào, mọi việc mẹ làm đều rất vội vã. Nghe tiếng động từ vườn bên vọng sang, mẹ gọi to, như để tìm kiếm một chút chỗ dựa tinh thần. Công việc xong xuôi, mẹ xếp trái cây, rau quả vào một đầu quang gánh, đầu kia là mình, rồi gánh chạy thục mạng rời khỏi làng.
Mỗi lần bố mẹ về vườn lên, chị em mình luôn có cái để ăn: nào cam, bưởi, khi thì vài chùm dâu… Một lần về thăm vườn lên, bố nói:
“Đêm qua Mỹ thả hai quả bom ngay trước nhà, ngôi nhà ba gian bị hất tung, hư hỏng hết cả rồi.”
Nghe mà rùng mình, chỉ biết thầm cảm ơn vì gia đình đã kịp thời sơ tán.
Lúc đi sơ tán, kho sách rất lớn của bố mình chỉ chuyển đi được một phần, còn lại phải để tạm ở làng quê. Trong thời gian đó, đã mất đi không ít sách mà bao năm bố mình tích góp.
Những năm 1968–1969, sau Tết Mậu Thân, Quảng Bình sục sôi trong không khí đề phòng quân Mỹ đổ bộ ra miền Bắc. Những con đường làng xưa kia nay chằng chịt hệ thống giao thông hào được mở rộng. Đó là những con đường đã dẫn dắt chúng mình đi qua năm tháng đạn bom, nơi mỗi bước chân đều gắn liền với ý chí sinh tồn và khát vọng hòa bình.
Từ quê mình vào vùng chiến tuyến chỉ khoảng hai mươi lăm cây số đường chim bay, nên tiếng bom đạn trong đó lúc nào cũng rì rầm vọng đến, không ngơi nghỉ. Có những hôm tiếng nổ vọng ra chát chúa. Mẹ mình khẽ nói:
“Hôm nay trong ấy đánh nhau to.”
Rồi mẹ thở dài:
“Ước gì không có chiến tranh, dù khổ bao nhiêu cũng chịu được cả…”
Hết phần 1

Một hố bom ở làng Cao Lao Hạ (ảnh Đặng Văn Quang)



