QUÊ HƯƠNG VÀ NỖI NHỚ
BẾN QUÊ
Nơi ấy ngập tràn ký ức
Một thời tuổi thơ đi qua
Là nơi ươm mầm ủ hạt
Cho ta cất cánh bay xa.
Theo gia phả các dòng họ ghi chép lại thì làng Cao Lao Hạ thuộc xã Hạ Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình (nay là xã Bắc Trạch, tỉnh Quảng Trị) cùng với Cao Lao Trung và Cao Lao Thượng vốn là ba làng cổ xuất phát từ làng Cao Lao được hình thành vào cuối thế kỷ XV, thuộc châu Bố Chính.
Làng Cao Lao Hạ với địa thế có sông thẳm, núi cao. Có sơn tiền, thủy hậu.
SÔNG NÚI QUÊ MÌNH
Quê mình tạo hóa bồi sinh
Sông thẳm núi cao kì bí
Phù sa xây thành đắp lũy
Sơn tiền, thủy hậu nên thơ
Linh Giang ngăn cách đôi bờ
Viễn biên Chiêm Thành xây lũy
Trịnh - Nguyễn phân tranh một thuở
Nồi da nấu thịt trong - ngoài
Lệ Đệ dấu quân luyện tài
Pháp vào ‘Cần Vương” dựng trại
Oằn mình bom gào đạn xới
Chở che nâng bước quân hành
Thuyền đưa xuôi ngược dòng Gianh
Trông ra Hoành Sơn hùng vỹ
Ngó vào ngút ngàn Lệ Đệ
Núi sông mãi miết đồng hành
Tôn bồi trang sử liệt oanh!
Là một ngôi làng cổ như bao làng cổ Việt Nam khác. Làng Cao Lao Hạ có quy hoạch đặc biệt, phía trước làng là đường Bản, sau làng là Đường Quan chảy song song nhau. Ở giữa được chia thành hai mươi lối xóm thẳng hàng như một bàn cờ với mọi ngôi nhà đều quay về cùng một hướng nam.
Phía trước làng là dãy nhà thờ họ trầm mặc, uy linh mà không một địa phương nào có được.
Từ trên đỉnh dốc oằn nhìn về, hình làng trông như một “chiếc thuyền Long Châu” đang đậu.
Với thế đất “địa linh” đã sinh ra nhiều” nhân kiệt” nổi danh vừa văn vừa võ.
NGƯỜI VÀ ĐẤT CAO LAO
Làng Hạ nổi danh đất địa linh
Sơn thanh thủy tú cảnh thanh bình
Hai mươi lối xóm dân quần tụ
Hai bốn từ đường họ hiển vinh
Thơ phú văn đàn danh vọng khắp
Võ quyền thao lược tiếng uy linh
Thuần phong mỹ tục muôn đời rạng
Người đất Cao Lao vẹn nghĩa tình
Với ngôi làng sơn tiền thủy hậu nên thơ, có muôn vàn những địa danh đã đi vào kí ức bao thế hệ chúng ta. Một số địa danh nay tuy không còn, nhưng trong tâm khảm chúng ta luôn vẫn mãi trường tồn.
Đặc biệt có:
THÀNH LỒI (*)
Vẳng tiếng quân reo khắp chiến trường
Cổ thành đứng đó giữa trời sương
Bình yên xã tắc ngời sông núi
Trấn giữ biên thùy rạng thái dương
Phố xá (**) đâu xưa người tấp nập
Đò xe một thuở khách giao thương
Giang sơn có lúc còn suy thịnh
Thành vẫn trường tồn giữa ánh dương.
(*) Thành Lồi hay còn gọi là Thành Khu Túc, là di tích văn hóa Chăm Pa được xếp hạng di tích cấp tỉnh
(**) Đồng phố. Tương truyền thời nhà Chăm, nơi đây phố xá tấp nập, đò xe nhộn nhịp trên bến dưới thuyền.
Đó là ngôi đình làng. Ai trong chúng ta không nhớ về ngôi đình làng Hạ. Ngôi đình nằm trên khu đất cao bằng phẳng nhìn về phương bắc, nơi hội tụ của nguồn Son, nguồn Nậy và dòng linh Giang lịch sử. Là một trong những ngôi đình linh thiêng cổ kính. Nơi đây trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng và thờ các vị thần Hoàng làng. Ngôi đình đã trải qua nhiều lần trùng tu tôn tạo và hư hỏng do bom đạn. Mãi tới năm 2008 mới khởi công xây dựng lại và đến ngày 15 tháng 3 năm Tân Mão đã long trọng tổ chức lễ khánh thành.
LỄ KHÁNH THÀNH ĐÌNH LÀNG HẠ
Khánh thành trong dịp tiết thanh minh
Làng Hạ cờ hoa mở hội đình
Hậu thế thỏa mong tròn đạo hiếu
Tiên hiền toại ước vẹn ân tình
Muôn dân lễ vật dâng Thần Tổ
Trăm họ khói hương tế Thánh Linh
Quan khách gần xa hoa chúc tặng
Cao Lao Đình Tự đã hồi sinh.

Đình làng hướng về phương Bắc. Xa xa là Cồn Hác tựa như tấm bình phong che chắn. Ngay trước mặt Đình là dòng Hói Hạ trong xanh hiền hòa.
HÓI HẠ
Một dòng lờ lượn thật nên thơ
Nước biếc quanh năm chảy lững lờ
Bần sác phủ xanh ôm mặt nước
Lúa đồng trải mượt dọc ven bờ
Đêm đêm Nò sáng Tôm tìm đến (*)
Sáng sáng lưới giăng cá lững lờ
Cứ lệ cuối năm làng tháo cống (**)
Người nơm kẻ rớ cứ mong chờ.
(*) Nò đơm tôm: Vào ban đêm treo đèn vào Nò để nhử cho tôm vào.
(**) Ngày trước, mỗi năm cứ đến gần tết âm lịch là có lệnh của làng (sau này là xã) cho phép mở cống hói Hạ để cả làng đánh bắt cá ăn tết.
Giữa cánh đồng phía trước làng có “Cửu khúc long khê” uốn lượn tưới mát ruộng đồng vào mùa hạ và thoát lũ vào mùa mưa.
CỬU KHÚC LONG KHÊ
Ngỡ ngàng thủy tú với non xanh
Chín khúc uốn mình Long hóa thân
Hút nước phun mưa mùa trĩu hạt
Thau chua trị thủy vụ thâm canh
Khai tâm mở trí văn truyền tụng
Luyện chí khuyến tài võ nổi danh
Tiền thế khai canh thời khéo chọn
Đất linh dựng nghiệp rạng hồng ân.
Phía dưới làng có bến phà Gianh và ngầm Hói Hạ. Là trọng điểm bắn phá ác liệt của máy bay Mỹ. Là tuyến đường huyết mạch giao thông chi viện cho tiền tuyến đã đi vào lịch sử “Xe chưa qua nhà không tiếc”.
BẾN PHÀ GIANH
Tự hào một thuở bến phà Gianh
Năm tháng bi hùng sử liệt oanh
Bom Mỹ xới cày phong tỏa bến
Pháo ta đan lửa bủa giăng mành
Phà qua, bến mở nhà không tiếc
Xe vượt, ngầm thông máu nhuốm thân
Lớp lớp anh hùng thân hiến trọn
Tượng đài ghi tạc mãi vinh danh.
Xa xa phía trước làng, qua cánh đồng phì nhiêu là dãy núi Lệ Đệ trùng điệp chảy dài từ dãy trường Sơn xuống tận biển. Trong dãy Lệ Đệ phía trước làng với những địa danh như: Ba Trại, dốc Oằn; Lều Cù; Đá Bạc; chấp Cờ; Rậy Ông Ly…với rừng thông reo bốn mùa gió hát hữu tình nên thơ. Những cái tên đã gắn liền với những dấu mốc lịch sử oai hùng của dân tộc và quê hương. Có những địa danh đã ăn sâu vào nỗi nhớ từ thuở chăn bò, cắt cỏ, kiếm củi…của bao thế hệ người con làng Hạ.
QUA BA TRẠI
Một chút mưa phùn lất phất bay
Một màn sương trắng tựa làn mây
Hồ xanh (*) xào xạc đàn Le (**) vỗ
Thông biếc rì rào nhạc gió lay
Khe Nước (***) mát trong nơi bến hẹn
Dốc Oằn (***) lộng gió chốn tình say
Quanh co uốn lượn hồn du mộng
Dấu tích liệt oanh những tháng ngày.
(*) Hồ Vực Sanh; (**) Le le là lòai chim giống loài sâm cầm; (***) Các địa danh

Và đây là “Dốc Oằn”. Nơi thật thơ mộng dành cho những chàng trai cô gái hẹn hò và là chặng dừng chân nghỉ ngơi sau chặng đường đi củi, cắt cỏ, hái sim. Chính vì vậy đây là nơi mà con dân Làng Hạ khi đi xa vẫn luôn nhớ về…
DỐC OẰN
Quanh co đường Ba Trại
Ngút ngàn rừng thông xanh
Nắng sớm tràn lưng núi
Líu lo rộn tiếng Oanh
Dốc Oằn hẹn dừng chân
Ngắm dòng Gianh mờ lượn
Chín nhịp cầu cong cong
Nối đôi bờ thơ mộng
Lều Cù mây vờn đỉnh
Suối róc rách nhạc reo
Kăc Kè (*) hương đưa ngát
Kìa! trấy Đỏ, Hồng Leo!
Tấm gương lớn ai treo (**)
Giữa trập trùng núi biếc
Bức thủy mặc ngắm hoài
Sợ xa rồi nuối tiếc
Dải đất Linh Nhân kiệt
Dáng hình “Thuyền Long Châu”
Làng Hạ thân thương đó
Lung linh vạn sắc màu.
(*) Cây kắc kè mọc ven khe suối có hoa rất thơm; khi nấu khoai, cho hoa Kắc Kè lên trên, khi chín khoai rất thơm ngon, có vị đặc trưng.
(**) Hai hồ chứa nước Cửa Nghè và hồ Vực Sanh

Còn nữa…, mời bà con xem tiếp phần 2 và phần 3 vào các ngày tiếp theo



