Tác giả PGS.TS Võ Chí Chính
Vui lòng xem phần 1 tại đây: https://caolaoha.com/ky-uc-chien-tranh
TUỔI TRẺ VÀ HỒI ỨC CHIẾN TRANH
Phần 2 – Nơi sơ tán và những kỷ niệm
…. Rồi đến một ngày dân làng không thể sống được ở quê nữa, khi cường độ bắn phá của máy bay Mỹ trở nên quá ác liệt… Gia đình mình sơ tán lên Lò Dời. Bây giờ nhắc đến địa danh này chắc ít người còn biết, nhưng đó là một dải đất nằm giữa Ga Mỹ Trạch và Động Mà Gà (xem hình). Cho đến bây giờ mình vẫn hình dung được hình ảnh ngôi nhà và những con đường ngày ấy…
1- NHỮNG NGÀY ĐẦU Ở NƠI SƠ TÁN
Ở nơi sơ tán, mình có thêm hai người bạn mới: Thảo và Cu Con (Phi – con chú Cưng). Cu Con là đứa nghịch ngợm có hạng, nó hay rủ mình về nhà ăn sắn ngâm, một món rất ngon ngày ấy. Còn Thảo bằng tuổi mình, bao năm học chung một lớp. Bọn mình thường chui xuống giao thông hào chơi. Có lần đang lúi húi dưới đó, Thảo chợt nói khẽ:
“Thôi, mình lên đi, kẻo người ta nói.”
Những ngày đầu, mình chưa được đi học. Chị gái mình thì học tận đường Quan, bố mẹ đi làm cả ngày. Mỗi sáng tỉnh dậy, mặt trời đã lên cao, trong nhà chỉ còn lại một mình, trống vắng và buồn. Chung quanh toàn mồ mả, thực sự cũng sợ, chẳng dám ra ngoài. Mình thường chui vào bếp ngồi trong đó một mình chờ chị và bố mẹ về.
2- CHIẾN TRANH KHÔNG BUÔNG THA
Cứ ngỡ lên vùng sơ tán thì sẽ yên ổn hơn, không còn bom đạn. Nhưng không, một buổi tối, khi cả nhà đang ăn cơm, máy bay Mỹ lại đến ném bom. Một quả bom nổ cách nhà chừng trăm mét, một quầng lửa lớn bùng lên khủng khiếp ngay trước mặt. Cả nhà nằm rạp xuống đất, mâm cơm bị đổ xuống đất và còn đâu tinh thần để mà ăn cơm nữa. Đó là quả bom dữ dội nhất mà mình từng chứng kiến. Quả thứ hai nổ trên dốc lên đường tàu – con đường trước kia bà con vẫn thường qua lại (xem ảnh).
Đêm đêm, ca-nông từ Hạm đội 7 lại bắn vào, vang lên thứ âm thanh quen thuộc:
“Tọng… ọng… diu… iu… oành…”
Âm thanh ấy, đến giờ chắc nhiều người vẫn còn nhớ.
Một lần, anh Hải (nhà thơ Hải Kỳ) từ dưới làng lên, đầu đội nón, khóc sướt mướt. Mẹ anh bị trúng bom Mỹ chết trước đó mấy ngày. Mọi người chạy ra động viên anh, ai cũng rất thương anh.
Thời đó, Mỹ thả rất nhiều truyền đơn, in trên thứ giấy trắng rất tốt. Dân quân đi thu gom hết, nhưng vẫn còn sót lại rải rác khắp nơi. Mình nhặt được khá nhiều, cũng tò mò đọc, nhưng không hiểu nhiều về chính trị. Có một tờ truyền đơn mình nhớ trên đó địch ghi:
“Chiến xa của Bắc Việt bị bắn cháy tại mặt trận Trị Thiên. Sắt thép không chịu nổi bom đạn thế thì hỏi thử xác thịt con người có chịu nổi hay không?”
Sau này, Mỹ còn thả cả đài radio và rất nhiều dãi kim loại gây nhiễu ra đa. Hễ nhặt được đài là phải giao lại cho cán bộ. Một sản phẩm chiến tranh khác rất được ưa chuộng lúc bấy giờ là thùng pháo sáng. Nhặt được thùng này, bà con đem về gò lại thành thùng đựng nước, vừa đẹp vừa bền. Về sau, hầu như nhà nào cũng có hai thùng nước làm từ vỏ pháo sáng.
Có lần, máy bay Mỹ bị bắn cháy, một chiếc dù bung ra, viên phi công nhảy xuống rừng Trường Sơn. Mỹ cho máy bay bắn phá dữ dội để đánh lạc hướng và phân tán lực lượng ta. Không lâu sau, một chiếc trực thăng từ Hạm đội 7 bay vào giải cứu được viên phi công ấy, trong sự nuối tiếc của mọi người. Nhiều năm sau, khi xem bộ phim “Việt Nam – Biên niên sử truyền hình”, có đoạn quay cảnh giải cứu phi công, mình cứ ngờ ngợ đó chính là cảnh ngày xưa mình đã tận mắt chứng kiến.
3- BỘ ĐỘI TRÚ QUÂN
Rồi bộ đội về quê mình ngày một đông. Các chú giăng võng khắp nhà, gần như không còn lối đi. Riêng gia đình mình thì hầu như phải ngủ dưới hầm.
Các đơn vị đóng quân đa phần là lính trẻ. Ban ngày, các chú tập luyện trên những bãi trống; tối đến lại hát vang những bài ca cách mạng. Có hôm các chú hát:
“Toàn dân ta xông ra như chẻ tre,
Làm cho Giôn-xơn đau đầu…”
Hôm ấy, mẹ mình được một trận cười khoái chí.
Mỗi lần các chú tập ngoài bãi cỏ, chị em mình cũng lò dò ra xem. Có lần các chú bảo hai chị em vật nhau cho vui. Vừa dứt lời, bà chị khỏe mạnh của mình đã lao vào vật mình lên bờ xuống ruộng. Sau này nghĩ lại, không hiểu sao hồi đó chị em mình lại “dại” đến thế.
Sau vài tháng tập luyện, các chú lên đường vào Nam chiến đấu. Trước khi đi, các chú thường để lại cho mình rất nhiều “phẩm vật” như: lựu đạn gỗ, mìn đất sét… những đồ dùng tập luyện hàng ngày. Hồi ấy, máy bay Mỹ hay bắn đạn 20 ly, ống liều rơi vãi khắp nơi, mình nhặt được rất nhiều đem về chơi.
4- TIỄN BỘ ĐỘI VÀO NAM
Mình không nhớ dân làng đã bao lần tiễn bộ đội lên đường vào Nam chiến đấu. Những buổi tiễn đưa ấy luôn diễn ra trong không khí vô cùng xúc động – thứ cảm xúc chỉ có thể có trong chiến tranh. Không từ ngữ nào diễn tả hết tình cảm quân dân lúc bấy giờ. Sau này mình mới biết, trên chiến trường, giữa ranh giới sống chết, người lính thương nhau hơn cả anh em ruột thịt, vì tính mạng của mỗi người luôn được đồng đội bảo vệ.
Sau này khi xem chương trình “Nhắn tìm đồng đội”, mình nhận ra phần lớn các anh hy sinh đều còn rất trẻ, nhiều nhất trong độ tuổi 19–22. Có người mới nhập ngũ chưa đầy nửa năm đã ngã xuống. Mình không thể tưởng tượng nổi, những đứa trẻ 19–20 tuổi bây giờ liệu có chịu đựng nổi cảnh bom rơi đạn nổ như thế hay không.
Chẳng cần chờ đợi lâu, chỉ vài tháng sau đã có người từ mặt trận trở về kể chuyện. Và đau lòng thay, có những người quen, mới đó thôi, đã hy sinh. Mình nhớ nhất là câu chuyện về chú Miêng – lính trinh sát quê Thanh Hóa – bị địch phục kích và hy sinh, sau mấy ngày mới vào lấy được mang về.
5- ANH THẢO ĐI K8
Hồi đó anh cả đi học xa, mọi việc dồn cho anh Thảo. Nếu mình nhớ không nhầm, năm 1967 anh Thảo đi K8. Chiều hôm ấy mình biết anh sẽ ra Thanh Hóa vào ngày hôm sau. Trong thâm tâm mình nghĩ, sẽ dậy để tiễn anh. Nhưng vì ngủ say, sáng dậy thì anh đã lên đường rồi. Một cảm giác buồn và trống trải khó tả kéo dài nhiều ngày sau đó.
Anh đi rồi, chăn dắt đàn bò ràn để lại cho chị, rồi đến mình. Nhìn lại bức ảnh đính kèm, chụp anh trai mình ở Thanh Hóa khoảng năm 1968, lúc ấy anh đã 14 tuổi mà trông chỉ như một đứa trẻ mẫu giáo bây giờ. Thế mà khi còn ở nhà, anh đã có thâm niên chăn bò vài năm rồi. Còn mình lúc đó chắc là nhỏ lắm. Nghĩ vậy mới thấy, chẳng lạ gì khi bây giờ những đứa trẻ nhỏ vùng cao làm đủ thứ việc.
Ngày đầu tiên, hai chị em mở đàn bò muộn, vừa mở cửa chúng rống lên và lồng lộn chạy thẳng một mạch. Chị em mình đuổi theo không kịp, trời mưa tầm tã, người ướt sũng, vừa chạy vừa khóc sướt mướt…
6- THEO CHỊ GÁI ĐI MỌI NƠI
Ngày còn nhỏ, mình như cái đuôi của bà chị. Thấy chị chuẩn bị đi đâu là mình cũng lăm lăm chạy theo. Chị không cho, mình vẫn chạy theo cho bằng được. Có lần đi xem phim ở Tâm Mớc, phải men theo đường tàu, qua nhiều khu nghĩa địa hoang vắng. Đến nơi thì mình chỉ ngủ gà ngủ gật, mà có thức cũng chẳng hiểu nội dung phim nói gì.
Một lần khác, chị đi tập trung lớp, mình cũng lẽo đẽo theo. Đến nơi, chị đứng vào hàng, rồi kéo mình vào đứng chung - xấu hổ không chịu nổi.
7- HÁT CHO MẸ NGHE
Những năm chiến tranh ấy, mình thường nghêu ngao hát các bài ca cách mạng. Hai bài mình hát nhiều nhất là Tiếng hát trên đường quê hương và Bài ca về đường chín. Nhờ đó mà mình biết đến rất nhiều địa danh ở Quảng Trị. Thuở ấy, nhắc đến Quảng Trị là cả một bầu trời thương nhớ.
Mỗi lần mình hát, mẹ cười rất hạnh phúc. Khi ấy mình chưa hiểu hết. Đến khi có con, thỉnh thoảng nghe con hát, mình mới thấm được niềm hạnh phúc mà mẹ từng có. Và bây giờ, khi đã già, mình vẫn luôn “bố trí” cho bà xã nghe – một cách bất đắc dĩ, các bài hát về tình yêu lứa đôi và đất nước.
8- TRỞ VỀ NGÔI NHÀ TUỔI THƠ
Cuối cùng, những đau thương mất mát rồi cũng qua đi, trong niềm vui vỡ òa của ngày đình chiến và được trở về lại ngôi nhà tuổi thơ. Ngày hôm ấy, tất cả mọi người đều rộn ràng, chị em mình leo lên cái thang, gọi vang sang nhà hàng xóm. ./.
*****




