Hồ Vực Sanh (ảnh Lưu Thái Hà)
Vui lòng xem phần 1 tại đây https://caolaoha.com/que-huong-va-noi-nho-phan-1
Được bao bọc bởi những cánh rừng thông là hai hồ chứa nước Cửa Nghè và Vực Sanh. Nhờ thiên nhiên ưu đãi và với công sức của dân làng Hạ đã xây đắp tạo nên hai hồ chứa nước lớn như hai tấm gương soi giữa núi rừng. Đã xóa đi cảnh hạn hán, khô cằn bao đời ở nơi đây.
VỊNH HỒ CỬA NGHÈ
Chiều thu hồ lặng phủ sương mờ
Chân bước hồn du dạ ngẩn ngơ
Chắc nhớ Bẩy (*) xưa Hồng Leo (**) mộng
Hay hoài Miếu cổ (***) Dạ Hương (***) mơ
Chấp Cờ (*) sừng sững Thông soi bóng
Động Léc (*) uy linh sóng vỗ bờ
Phiêu lãng đưa ta về chốn cũ
Hái sim ngụp lặn giữa ngày thơ
(*) Các địa danh
(**) Bẩy là nơi rất nhiều cây Hồng Leo. Sau khi đắp đập thì bị chìm dưới hồ
(***) Ngôi Miếu cổ linh thiêng tại Lòi Nghè đã bị chìm sâu dưới nước; Cây Dạ Hương đại thụ quí hiếm nổi tiếng tại Lòi Nghè đã bị chết do ngập nước hồ

Hồ Cửa Nghè (ảnh Lưu Đức Hải)
VỊNH VỰC SANH
Xanh biếc một màu xanh biếc xanh
Núi non trùng điệp lượn lờ quanh
Xa xa Đá Bạc (*) nghiêng soi bóng
Chót vót Lều Cù (*) níu tản vân
Long giáng cứu nhân bồi tuấn kiệt
Châu phun dạ sáng dưỡng hiền nhân
Long Khê cửu khúc nguồn tuôn mãi
Kẻ Hạ trời ban đó! Vực Sanh!
(*) Các địa danh
Nói về làng quê thì “cây đa, giếng nước sân đình là biểu tượng của QUÊ MẸ và Làng Cao Lao Hạ cũng vậy.
Tuổi trẻ các thế hệ làng ta ai không nhớ đến cây đa làng xóm một, xóm chín, xóm mười bảy…Tuy bây giờ vẫn chỉ còn trong kí ức.
CÂY ĐA XÓM MỘT
Sừng sững oai phong trước cửa làng
Rễ buông xòe tán điểm thôn trang
Rỗng thân ngọn vẫn vươn chồi biếc
Trơ rễ cành luôn trĩu quả vàng
Nẳng đổ dừng chân nhờ bóng mát
Mưa cơn tạm trú đợi mây quang
Cây đa giếng nước hồn quê mẹ
Mỗi bận nhớ về cứ xốn xang.
CÂY ĐA XÓM MƯỜI BẢY
Trước xóm Cụ Đa thuộc lão làng
Cao niên trường thọ nhất thôn trang
Dẻo dai dãi gió dầm mưa nắng
Vững chãi đội sương rát nắng vàng
Từng trải sự đời bao vận hạn
Chứng nhân vận nước lúc vinh quang
Già mong hội ngộ cùng bầu bạn
Nay được thỏa lòng (*) lão xốn xang.
(*) Phong trào trồng lại những cây đa làng
Người làng Hạ chủ yếu với nghề thuần nông, ngoài ra cũng còn lắm nghề phụ truyền thống khác, chủ yếu là nghề làm nón. Nón làng Hạ đã theo đò dọc lên chợ Mới. Theo đò ngang qua chợ Ba Đồn và theo các Mẹ, các chị em xuống bến phà Gianh để tỏa đi muôn phương làm đẹp cho đời.
NÓN LÀNG HẠ
Lưu truyền làng Hạ nón thưa, dày (*)
Nghề phụ nông nhàn mãi bấy nay
Nứa thẳng, tre già tinh mắt chọn
Móc tơ, lá nõn kén tay bày
Vành đều to nhỏ kỳ công vót
Nuộc thắt nhặt thưa khéo giỏi may
Chợ Mới, chợ Đồn phiên lại bán
Ông nghè ông cống rạng nhờ đây.
(*) Nón, có nón móc trắng, nuộc may dày và cầu kỳ, lá trắng nõn.
Nón móc đen, nuộc đan thưa, lá kém hơn.
Cảnh làm nón (Ảnh Nguyễn Chung Quý)
Làng Hạ là ngôi làng nằm trên dải đất được bồi đắp nằm ở cuối nguồn bên bờ nam sông Gianh bốn mùa nước mặn.
Nước giếng mỗi gia đình đều bị nhiễm thành nước lợ chỉ dùng được cho sinh hoạt. Nước dùng cho ăn uống phải đi gánh từ các giếng ven rừng xa vài km.
Vì vậy, những người con làng Hạ thế hệ này sang thế hệ khác lớn khôn lên đều tắm nước giếng làng, ăn và uống nước giếng Hóc. Và đặc biệt là nước Giếng Mây trong vắt, ấm về mùa đông, mát lạnh giữa ngày hè oi ả…
VỊNH GIẾNG MÂY
Địa linh long mạch tụ nơi đây
Tạo hóa khơi nên một “giếng Mây”
Hạ nắng chang chang không biết cạn
Đông mưa tầm tả chẳng bao đầy
Mát lòng lữ khách khi oi ả
Ấm dạ tiều phu lúc bấc may
Nước uống bao năm nguồn vẫn nhớ
Ai thời khôn lớn cội từ đây.
Ngoài hạt lúa củ khoai truyền thống, người dân Làng Hạ vốn khéo tay, sáng dạ đã tạo ra nhiều của ngon vật lạ được các thế hệ lưu truyền lại đến hôm nay như: CHÈ GÓP hay món CÁ CHUỐI…
Những đọi nước chè góp đăng đắng, thơm thơm là tổng hợp của nhiều loại lá rừng được lấy đúng thời điểm mồng 5 tháng 5 âm lịch. Là loại nước giải nhiệt trong lúc lao động giữa cái nắng nóng như rang và gió Lào khô cháy của mảnh đất miền trung.
CHÈ GÓP QUÊ TÔI
Ai sinh “Chè Góp” tặng quê tôi
Bao vị lá cây sẵn mé đồi
Sóng Đỏi (*) thơm thơm vừa chạm lưỡi
Rèng Rèng (*) đăng đắng nhấp đầu môi
Sẵn Chìu (*), Bướm Bạc (*) cho vài nắm
Thêm Hón (*), Mù Tru (*) khẳm một nồi
Bát nước tinh hương trời đất tặng
Chè quê lưu mãi tháng năm trôi.
(*) Các loài lá được hái trên đồi vào dịp tết Đoan Ngọ (5 tháng 5 âm lịch), chặt nhỏ trộn đều phơi khô đem cất để dùng dần
Từ những sản vật quanh vườn như quả mít non, quả chuối hột ngỡ bỏ đi. Nhưng với bàn tay cần cù khéo léo của các Mẹ, các chị đã hóa phép thành những món ngon “đặc sản” như món nộm mít; cá chuối …
CÁ CHUỐI QUÊ TÔI (*)
Món ngon xứ Quảng nức xưa nay
Chắt nắng lọc sương quyện lại đây
Thân dẹt nõn nà bao khách đắm
Mình cong trắng trẻo vạn hồn say
Thoảng hương diù dịu thanh thanh ngọt
Đậm vị the the chan chát cay
Mâm cỗ sang hèn danh điểm mặt
Sơn hào hải vị sánh bì thay.
(*) Món ăn được làm từ quả chuối hột bánh tẻ giống con cá.
Với những cánh đồng mấp mô không bằng phẳng lại thiếu nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và tưới tiêu, nhiều cánh đồng chỉ phù hợp với trồng khoai lang. Khoai trồng trên những cánh đồng khác nhau có hương vị khác nhau. Đồng sau khoai có vị mặn; khoai Cồn nhiều bột lại thơm. Bột nứt trắng có khoai Cửa Nam… nhưng ngon nổi tiếng nhất vẫn là khoai đồng Thành.
Khoai lang ngoài luộc ăn truyền thống, còn có khoai khô (xắt lát; khoai rọc; khoai bằm); khoai deo…để dự trữ cho ngày ba tháng tám.
KHOAI LÀNG HẠ
Khoai lang làng Hạ mấy nơi bì
Trơn láng, bùi thơm sâm khác chi
Xuân đến đánh vồông dây bén lứa
Hè sang bới luống củ vừa thì
Được mùa gánh trữ chất to đống
Gặp nắng xắt phơi chật lối đi
Lát; rọc; bằm; deo, chum cất kỹ
Gió mưa, giáp hạt chẳng lo gì.
Chúng ta được lớn khôn, trưởng thành trước hết là nhờ ơn bầu sữa MẸ Cao Lao Hạ. Nơi đất MẸ đã tạo tần một nắng hai sương dưỡng dục ta nên người.
MẸ
Rét ngọt mưa phùn buổi cuối đông
Liêu xiêu bóng Mẹ đổ trên đồng
Chiều buông mò lặn dầm sau hói
Rạng sáng chợ phiên chực bến sông
Đến bữa bát lưng xơi dạ ấm
Khuya về thân mỏng ủ tình nồng
Đàn con đủ lớn bay muôn nẻo
Năm hết xuân về mắt dõi trông.
Và để rồi cứ mỗi mùa VU LAN hay tết Thanh Minh. Tại các nhà thờ Họ; Nơi bàn thờ gia tiên; nơi đàn tế trời đất tại Cồn Cui.Các con cháu lại tề tựu về thắp nén tâm hương, dâng lễ vật cầu mong đất nước an bình, mùa màng tươi tốt và tạ ơn trời đất. Tạ ơn các bậc tiên hiền … báo hiếu Mẹ Cha và không quên sẻ chia với những linh hồn đơn côi….
VU LAN
Mưa ngâu rả rích mãi không ngơi
Ảm đảm thế gian đẫm lệ trời
Nhớ Mẹ Cha ta nơi chín suối
Thương người cô quạnh chốn muôn nơi
Lòng thành lễ tạ ơn tiền thế
Tâm niệm hương hoa nghĩa đạo đời
Trước ngực bông hồng cài nhắn nhủ
Đong đầy hiếu lễ nhớ Người ơi!
VU LAN VỌNG TIẾNG NGƯỜI XƯA
Mùa Vu Lan lại tới
Hương trầm vẽ nẻo bay
Niết bàn xa nơi ấy
Lòng trần thế tỏ bày
MẸ
Một đời cơm áo nặng liền vai
Xuân- Hạ - Thu qua đông đã cài
Lo bếp lửa hồng luôn rực cháy
Quên mình leo lắt một tàn phai
CHA
Gánh cực oằn vai chẳng thở than
Mong xây mơ ước cháu con đàn
Mồ hôi muối đọng bồi mong mỏi
Con vượng hơn Cha- phúc đại ngàn
VẬY NÊN
Báo hiếu cốt khi Bố Mẹ còn
Sống luôn tròn đạo phận làm con
Để sau không phải ôm lòng hận
Trước ngực hoa cài lễ báo ân.

Còn nữa…, mời bà con xem tiếp phần 3 vào các ngày tiếp theo



