19:01 ICT Thứ hai, 19/11/2018
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non

Người Cao Lao Hạ»Lao động

Mệ Lưu Thị Thám, nữ y tá làng thời chiến

Thứ năm - 09/06/2016 15:00
Chuyện về y tá làng thời chiến qua ghi chép và ảnh của anh Lưu Văn Lộc và Đặng Văn Quang

Chiến tranh đi qua đã lâu, nỗi đau mất đang dần vơi đi. Nhưng những ký ức về một thời ác liệt sẽ khó phai với những ai đã từng sinh ra và lớn lên trong lửa đạn chiến tranh. Trong tôi, cậu bé sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, 6 tuổi đã theo dòng người đi K8 vẫn còn đọng lại hình ảnh những con người bình dị nhưng hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, đó là những y tá làng thời chiến. Họ cũng bình thường như bao người bình thường khác, nhưng với tôi họ thật cao quý bởi họ vừa là nông dân, vừa là chiến sỹ và cao cả hơn, họ là những thầy thuốc của làng chữa bệnh cứu người. Thỉnh thoảng về làng, gặp lại những y tá làng thời chiến, nhiều kỷ niệm rơi vãi lại hiện về. Một trong số những y tá làng thời chiến ấy có bà, Lưu Thị Thám.

Mệ Lưu Thị Thám

Năm 1963 bà được cử đi học lớp y tá sơ cấp mấy tháng rồi về làng làm y tá xã. Phải nói rằng, những đứa trẻ sinh ra trong những năm thập kỷ 60, 70 và cả những năm 80 của thế kỷ trước ở Cao Lao Hạ, đa phần đã qua đôi bàn tay nâng đỡ, chăm bẵm “cắt rốn chôn rau” của bà. Tiếng khóc chào đời của những đứa trẻ dưới bàn tay nâng niu của những “bà đỡ” – y tá làng át đi tiếng bom rền đạn réo. Nụ cười rạng rỡ, mãn nguyện của những người mẹ “vượt cạn” thành công dưới những căn hầm ẩm ướt, trong những ngôi nhà tranh dột nát làm tan đi những nỗi đau chiến tranh. Họ thầm cảm ơn những y tá làng, người luôn sát cánh bên mẹ con họ, giúp họ mẹ tròn con vuông.

  

Dụng cụ còn sót lại của mệ Lưu Thị Thám khi làm y tá làng

Bao thế hệ lớn lên nhờ đôi bàn tay nâng đỡ của bà nay đã trưởng thành. Nhiều người vẫn không quên công ơn của bà, thỉnh thoảng về thăm, nhắc lại những kỷ niệm đã được bà cứu chữa trong chiến tranh. Mới đây, anh Lưu Quý Thông, một trong rất nhiều người đã từng được bà cứu chữa về thăm bà. Anh kể, hồi đó anh bị thương, mảnh bom bắn vào mặt, máu me chảy đầm đìa, bà đã khâu lại vết thương cho anh. Không dùng thuốc gây mê, gây tê, chỉ với đôi bàn tay khéo léo, giọng nói nhẹ nhàng êm ái đã là liều thuốc giảm đau thần kỳ giúp anh quên đi đau đớn. “Chịu khó nghe, ạ khâu là mau lành lắm, sau này còn đẹp trai, có duyên hơn chừ nữa đó. Mai mốt ra ngoài ve con mô thiệt khéo đem về cho ạ coi với”. Anh bảo, cứ mỗi lần soi gương, nhìn thấy vết sẹo trên mặt là lại nhớ và biết ơn mệ Thám. Thỉnh thoảng gặp chúng tôi, anh còn khoe, vết khâu của bà, một y tá làng sơ cấp, đẹp không kém một bác sỹ chuyên khoa.   

Bà kể, thời chiến tranh, đội ngũ y bác sỹ làng vô cùng vất vả nhưng rất nhiệt tình xông xáo. Nghe tin ở đâu có người bị thương, ốm đau là anh chị em có mặt ngay. “Ai kêu mô chạy nấy, không kể đêm hôm mưa rét, để việc nhà mình đó đã”.  Không chỉ cứu chữa cho bà con trong làng mà còn đến từng trận địa pháo cao xạ, trận địa tên lửa ở phà Gianh, Hói Hạ, Lều Cù, Ba Trại để cứu chữa thương binh, khâm liệm tử sỹ. Đi đi bộ hàng chục cây số để nhận thuốc men gánh về. Thầy thuốc với người bệnh thật gần gũi, luôn tìm đến với người bệnh chứ không phải ngồi ở trạm xá chờ người bệnh đến. Với bà, do làm chuyên trách nữ hộ sinh, “bà đỡ” Lưu Thị Thám có mặt ở mọi nơi khi có bà bầu “vượt cạn”. Không phải như bây giờ, bà bầu chỉ việc ăn chực nằm chờ, bồi dưỡng tẩm bổ thuốc này thuốc kia, rồi siêu âm xét nghiệm cũng phải tìm đến bệnh viện cao cấp. Bà bầu ngày ấy bụng vượt mặt vẫn phải sản xuất, phục vụ chiến đấu. Có những ông chồng đang cày ruộng, nghe tiếng vợ kêu đau bụng khi đang cấy mùa vội hớt hải chạy đi tìm bà  “Ạ ơi, cấy tui đau đẻ trước đồng, mau nhờ ạ ra”. Thế là bỏ hết mọi việc, vơ vội mấy thứ cần thiết chạy thật nhanh. Chuyện các bà bầu đẻ rơi giữa đồng, bến đò, sân kho hợp tác không phải là hiếm. Thế mới biết, công lao các “bà đỡ” trong thời chiến là vất vả thế nào. 

   

Ký ức khắc mãi trong tôi là hình ảnh chiếc ấm nhôm đen nhẻm, cái hộp nhôm đựng bơm kim tiêm, nón lá, áo tơi của những y tá làng thời chiến cùng những đôi chân trần đi khắp làng trên xóm dưới. Trưa hè nắng rát cũng như đêm đông mưa rét. Những đôi chân trần bấm chặt trong bùn đi khắp các nẻo đường làng lầy lội đến tận từng nhà, từng trận địa pháo để chăm sóc bệnh nhân. Thầy thuốc đến nhà người bệnh, ngồi bên bếp lửa chờ ấm nước sôi để luộc sát trùng bơm kim tiêm. Mội mũi kim tiêm phải cất để dùng đi dùng lại nhiều lần, tiêm cho hàng chục, thậm chí hàng trăm người. Chân tình hỏi thăm bệnh nhân, không có khoảng cách bệnh nhân thầy thuốc. Thầy thuốc chẩn đoán tại chỗ, tiêm thuốc, cho thuốc tại chỗ. Không có những cái bắt tay xã giao, không quà không cáp. Tình người trong chiến tranh sao mà cao quý thế.  Những bác Liên, bác Lượng, o Trạn, o Năm… lúc nào cũng nhiệt tình hăng hái, với những khuôn mặt hiền từ, thật sự là những “lương y như từ mẫu” luôn mãi trong tôi.

  

Bà con Đồng Hới thăm mệ

Thế hệ những y tá làng thời chiến nay đã già lắm rồi, có người đã thành thiên cổ. Công lao của các bác cũng đã được nhà nước ghi nhận bằng những tấm huân, huy chương, là những đồng tiền trợ cấp dù chưa nhiều. Nhưng đó cũng là những phần thưởng xứng đáng, là niềm động viên an ủi về già.

Nhưng với bà, niềm vui không trọn vẹn. Nhà nước cũng đã biết đến và ghi nhận công lao bà bằng tấm Huân chương kháng chiến Hạng Ba do chủ tịch nước Trần Đức Lương ký tặng. Nhưng như thế là chưa đủ, chưa xứng đáng với những đóng góp mà bà đã cống hiến cho y tế xã nhà trong suốt thời kỳ chiến tranh. Mấy chục năm nay, hai ông bà sống nhờ số tiền ít ỏi của chồng bà, ông Lê Chiêu Hợi, một cán bộ tín dụng HTX về hưu. Trời cũng không cho ông bà một đứa con để có chút niềm vui khi chiều tà xế bóng. Bà kể, bà làm y tá xã từ năm 1963 đến năm 1983 thì nghỉ việc, không lương không bổng. Khi nhà nước có chủ trương làm chế độ trợ cấp người có công, bà cũng nằm trong diện được xét. Nhưng chẳng biết vì lý do gì, cuối cùng tên bà bị gạt ra khỏi danh sách xét duyệt. Bà cũng đã nhờ một vài người bà con giúp đỡ để làm lại, bao nhiêu hồ sơ giấy tờ bà đưa cho họ hết. Nhưng chờ mãi, chờ mãi, trong khi những người cùng làm ở trạm xá với bà đều được hưởng chính sách thì bà vẫn cứ mòn mỏi đợi. Cuối cùng, hỏi ra mới biết là không ai nhiệt tình giúp bà cả. Không những vậy, họ còn làm mất hết hồ sơ giấy tờ. Vậy nên, cứ mỗi lần nhà nước có chủ trương làm chế độ cho người có công, bà đều không được. Mỗi lần có ai hỏi đến chuyện này, bà lại chua chát, mắt nhìn xa xăm luyến tiếc một đều gì đó trong vô vọng. Nhiều trận đau thập tử nhất sinh nhưng bà chẳng dám đi bệnh viện. “Cũng may là trời còn thương mệ, cho mệ sống đến tám mươi để mệ còn được hưởng chút tiền nhà nước phụng dưỡng tuổi già”. Trời ơi, hai ông bà già yếu, mấy chục năm sống bằng một suất lương của một cán bộ tín dụng HTX về hưu mà vẫn lạc quan: “trời thương mệ cho mệ sống đến tám mươi”...

  

Ngoài tấm huân chương này mệ không  được hưởng thêm chính sách gì nữa

Tuy nghèo của cải nhưng tấm lòng bà bao dung rộng lớn. Làng xóm ai cũng quý mến, cảm phục bà. “Mệ Thám ư, cả làng ni hiếm người như mệ”. Nhiều người đã nói về bà như thế.

Người xưa dạy: “Có phúc có phần” thật không sai. Nhưng với bà, một người phụ nữ phúc hậu, đức độ hiền từ như thế, sao phần bà chỉ toàn phần khổ?

Tác giả bài viết: Lưu Văn Lộc

Tổng số điểm của bài viết là: 39 trong 9 đánh giá
Bạn click vào hình sao để cho điểm bài viết
Từ khóa: Lưu Văn Lộc
Nguyễn Chung Quý- - 09/06/2016 17:41
Nhắc đến Mệ Thám thì chắc cả làng Hạ này ai cũng biết. Mệ là người đức độ và tấm lòng "Lương y như từ mẫu". Cầu trời, chúc ôông, mệ mãi khoẻ mạnh. Cảm ơn anh Đặng Văn Quang và Lưu Văn Lộc cho bà con độc giả được biết thêm về mệ.
Đặng Văn Quang- - 11/06/2016 19:40
Đọc bài viết của Lưu Văn Lộc, tôi vô cùng xúc động, cảm ơn LVL đã viết về một tấm gương, một con người làng Hạ mà từ trẻ đến già ai cũng yêu mến. Và, cũng không ít người làng ta được sinh ra dưới bàn tay "Bà đỡ" NHÂN HẬU, ĐỨC ĐỘ của bà Lưu Thị Thám,trong cái thời buổi vô cùng khó khăn. Bà y tá thời chiến tranh đó là thím tôi, tôi đã viêt về bà trên trang fb của tôi. Thay cho comment bài viêt của LVL tôi xin được copy qua đây xin được góp cùng tiếng nói.


THÍM TÔI
Thím tôi tên là Lưu Thị Thám, là con cháu thuộc dòng Họ Lưu Quan làng Cao lao hạ, một trong những dòng họ danh giá của xã Hạ trạch, huyện Bố trạch, tỉnh Quảng bình.
Thím lấy chú tôi hồi nảo hồi nào tôi không biết, lớn lên tôi đã thấy chú thím thật đẹp đôi, người cao ráo, tầm thước, nhanh nhẹn vui tươi, đi đâu cũng có nhau, như cặp Sam sau rào vậy. Những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, thím tôi làm y tá ở trạm xá xã, thím có giọng nói nhẹ nhàng, bàn tay khéo léo, cử chỉ ân cần… thím đã băng bó, cấp cứu cho không biết bao nhiêu người bị bom đạn. Nào là bộ đội, dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong và nhân dân trong xã…tất thảy những ai bị thương vong, đều có bàn tay âu yếm của thím tôi.
Ngày đó, quê tôi là một trọng điểm vô cùng ác liệt, (Bến Phà Gianh, ngầm Hói Hạ, đường Ba trại- Thọ lộc) hàng ngày bom đạn Mỹ dội xuống làng quê tôi không lúc nào ngớt, mặt đất sôi lên, rung chuyển, ngày nào cũng có người chết, người bị thương…Trạm xá xã như bệnh viện tiền phương, hầu hết những người đó đều được thím tôi cứu chữa ban đầu, nặng thì chuyển tuyến trên, nhẹ thì điều trị tại chỗ.
Trạm xá xã được đặt trong những nhà hầm nửa chìm nửa nổi. Cùng với những tiếng kêu đau đớn của người bị thương là tiếng khóc của trẻ con mới chào đời. Có sinh, có tử, cho dẫu bom rền, đạn rít vẫn không ngăn được sự sinh sản của con người, bởi đó là quy luật. Những ai là người Cao lao hạ được sinh ra trong thập niên 60; 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ trước, nếu thân mẫu của mình “vượt cạn” ở trạm xá xã chắc chắn đều qua tay bà đỡ, đó là thím tôi.
Trong số những người làm ở trạm xá xã, thím tôi là người trẻ tuổi nhất, lại son rỗi (chưa có con cái) nên phần lớn thời gian trực chiến, những công việc nặng nhọc đều do thím tôi giành phần gánh vác.
Tôi còn nhớ một lần gặp thím đi nhận thuốc cho trạm xá, phải đi bộ 25 km vào tận bệnh viện Huyện để gánh về. Đã 5 giờ chiều rồi, thím vẫn loay hoay với cái hóa đơn, do kho thuốc xuất nhầm từ xã Hòa trạch sang xã Hạ trạch, thím đành phải chờ xã kia mang thuốc đến đổi lại, lúc đó mới nhận lại phần của mình mang về. Đêm đó, thím phải gánh bộ, đi suốt đêm để ngày mai có thuốc cấp cứu cho bà con.
Hết làm ở trạm xá, thím chuyển qua nuôi dạy trẻ mồ côi. Hồi đó làng tôi có một trại trẻ mồ côi, bởi trong chiến tranh cha mẹ các cháu đều bị bom mỹ giết hại nên không còn nơi nương tựa. Với bản tính hiền dịu, giọng nói nhẹ nhàng, cử chỉ âu yếm, thím đã yêu thương lũ trẻ như con mình, bù đắp cho chúng cái phần tình cảm người mẹ, người cha mà đám con trẻ kia bị chiến tranh cướp mất. Có những đứa còn quá bé, đêm đêm thím phải ẵm bồng, ru, hát, rồi ngủ cùng với vợ chồng chú thím tôi như một đại gia đình vậy. Và, vợ tôi là một trong những đứa trẻ, của cái đám trẻ mồ côi đó được thím yêu thương nhất.
Rồi hết chiến tranh, thấm thoắt thoi đưa, ngoảnh đi ngoảnh lại thì chú thím đã già. Chú thím tôi không sinh được con, có lẽ do một phần trong chiến tranh không có điều kiện để chữa chạy, cũng còn do một phần chiến tranh đã cuốn hút công việc của hai người chăng?
Điều muốn nói thêm, không hiểu sao với thời gian cống hiến dài như vậy, nhưng nay thím tôi không được hưởng một chế độ gì cả, hưu cũng không; mất sức cũng chẳng có. Sức lực ngày một yếu, ruộng nương thì không còn sức để làm, chỉ biết cậy nhờ mấy đứa cháu gần xa, cùng bà con lối xóm.
Mỗi lần về quê, tôi đều ghé thăm, thấy hoàn cảnh của chú thím tôi thật cám cảnh vô cùng, hai con người tuổi ngoại bát tuần, sức vóc ngày một mòn đi, dìu nhau, hiu hắt, như những tia nắng sắp tắt vời vợi trước ráng chiều hoàng hôn.
Tạo hóa thật không công bằng chút nào, được sinh ra trên cõi trần, một người tốt như thím tôi lẽ ra phải được hưởng Hạnh phúc như bao người… nhưng thật trớ trêu thay…
Thương thím, xin viết đôi điều để tỏ lòng yêu quý. Ôi những con người quê tôi, thật thà, nhân hậu, cống hiến, hy sinh nhưng chẳng bao giờ nhận được điều gì cho riêng mình.
phanvanha- - 13/06/2016 17:14
O Thám "Bà đỡ" của làng ta, thật xứng danh với lời Bác dạy "Lương y như từ mẫu". Hình ảnh đẹp về người O y tá làng ta cứ đẹp mãi trong đôi mắt tôi.
Tôi đang tìm lại cảm xúc để viết về O, một con người bình dị mà thân thương, nhưng hôm nay tôi được đọc bài viết của LVL, mặc dù trong bài viết này LVL chưa nói hết những gì về O.
Bài viết đã cho chúng ta nhìn nhận lại một hình ảnh cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong đó có hình ảnh thật người phụ nữ làng Cao Lao Hạ xưa đang còn hiện hữu.
Tiếc thay sao ĐVQ lại hỏi "Tạo hóa không công bằng chút nào" ? Tại chúng ta cả thôi, hãy cúi đầu nhận lỗi với O !
LVL và ĐVQ à, xã hội bây giờ có thể là cơ chế thị trường, có những người không biết hổ thẹn với đời và lương tâm, họ đã làm được điều này điều nọ đó thôi.
Nay người O đáng Kính "Cống hiến, hy sinh nhưng chẳng bao giờ nhận được điều gì cho riêng mình" đang còn sống lay lắt trên cõi đời. LVL bớt chút thời gian đi gõ cửa, may sao ngoài tuổi thập bát tuần O nhận được đồng tiền trợ cấp chính sách để O đỡ tủi thân tuổi già. Giờ đây biết rằng đó chỉ là niềm an ủi một người nữ y tá đã làm theo lời Bác dạy "Lương y như từ mẫu" từ những ngày xa xưa không cần ai phải tốn giấy mực vận động, tuy có muộn màng nhưng là tất cả.
Em hãy phát huy sức mạnh của con cháu và lòng biết ơn của bao người dân làng Hạ, nhất là bao bà mẹ vượt cạn, bao tiếng khóc chào đời trong những ngày gian khó. Nay bao thế hệ được O nâng đỡ giờ cũng đã thành ông thành bà, mong một ngày sớm nhất đem những bó hoa đến nắm chặt tay O và cùng O nhận lại những gì cao quý mà O đã cống hiến và được nói một lời cảm ơn !
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image