14:43 ICT Thứ hai, 17/12/2018
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non

Giới thiệu Cao Lao Hạ»Cao Lao Hạ xưa

Cao Lao Hạ - Miền đất Cửu Khúc Long Khê

Thứ tư - 13/10/2010 18:14
Đến với Cao Lao Hạ, nhìn ra giữa cánh đồng trước mặt làng chúng ta sẽ thấy có một dòng hói chạy ngoằn ngoèo uốn lượn, tên gọi là Cửu Khúc Long Khê càng tô điểm thêm vẻ đẹp cho miền đất có tiếng là “địa linh nhân kiệt”.

 

Cao Lao Hạ, nay là xã Hạ Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình, một làng quê có phong thổ mang vượng khí nếp đất văn chương, giàu truyền thống văn hiến. Trên cơ sở những tư liệu xác thực trong tập Cao Lao hương sử, nhà thơ Lưu Trọng Tuần đã mô tả nên một làng Cao Lao  xưa kia nổi tiếng về tao nhân mặc khách, có một nền văn hoa phong phú:

 

...”Đời đời tuấn kiệt bộn bề

Tài cao học giỏi không hề ô danh

Tú tài, cống sĩ khóa sanh

Đại khoa đầu xứ thanh danh lẫy lừng”...

 

Đến với Cao Lao Hạ, nhìn ra giữa cánh đồng trước mặt làng chúng ta sẽ thấy có một dòng hói chạy ngoằn ngoèo uốn lượn, tên gọi là Cửu Khúc Long Khê càng tô điểm thêm vẻ đẹp cho miền đất có tiếng là “địa linh nhân kiệt”.

 

...”Cây Sanh vực thẳm trời dành

Hồ sâu nước lớn, suối xanh chảy về

Giữa làng có một Long Khê

Chín chiều uốn khúc ra bề rồng Doanh”...

 

Đó là con mương thủy nông làng Cao Lao Hạ, vừa là con sông nhỏ nội đồng trước mặt làng, quanh co uốn lượng, được gọi là rồng chin khúc. Cửu Khúc Long Khê bắt nguồn từ vực Cây Sanh được đặt tên là Đầu rồng, đến đối diện cánh đồng Hưng là Lưỡi rồng, dòng nước chảy ngoằn ngoèo chin khúc về đền Bàu Eo (xóm 9) là Rốn rồng, đến xóm 3 là Đuôi rồng.

 

Cửu Khúc Long Khê nguyên thủy là con suối tự nhiên, được nhiều thế hệ khai thác và biến thành kênh mương thủy lợi và thủy nông góp phần vào cảnh sắc sơn thủy hữu tình của làng Cao Lao Hạ, một thời gọi là Kẻ Hạ.

 

Xưa kia, nguồn nước vực Cây Sanh theo Cửu Khúc Long Khê chảy qua khắp ruộng khắp làng tưới mát cánh đồng lúa vàng, tạo ra cảnh thuyền chài đủng đỉnh, ngư phủ buông câu, thả cá. Cửu Khúc Long Khê chẳng những đã từng cung cấp nước tưới cho vụ lúa bát, khí hậu ôn hòa, mùa màng không mất mà còn cùng với Hói Hạ, Sác Biền tạo thành một vùng thủy vượng, trù phú. Nhờ vậy một thời Cao Lao Hạ được mệnh danh là xứ sở của “cơm côi, cá đưới”[1]. Chính vậy mà một vị tiền bối của làng Cao Lao Hạ đã từng ứng khẩu sáng tác ra bài vè Cửu Khúc Long Khê vẫn còn truyền tụng cho đến ngày nay:

 

“... Trai đồng tâm hiệp lực

Gái đơn tử hồ tương

Người lên xuống chật đường

Vui cũng bằng đô hội...

Dân gia công mấy bữa

Sửa long mạch khai thông

Tu bổ khúc Cửu Long

Thủy lai triều nước mới

Nhà nông phu cũng lợi

Đủng đỉnh vác cày mây

Lúa thu lượm đầy tay

Gạo dư thừa trích để”...

 

Tương truyền tác giả bài vè này được làng thưởng một ao cá.

 

Trước mặt Cửu Khúc Long Khê là một ngọn núi án ngữ phía Nam, sau lưng là sông Đại Linh Giang (sông Gianh) chảy dọc che chắn phía Bắc, bên trái (phía Tây) là làng Kẻ Chuông (Mỹ Trạch) có ngọn núi Hòn Vắp làm tiêu, bên phải là làng Kẻ Đờng (Bắc Trạch) với hòn Thầy Bói làm biểu, với địa thế cảnh quan thật tuyệt vời, có tiền sơn, hậu thủy, hữu tình, có rừng thẳm núi cao nên mới cải tên là Cao Lao Hạ nhằm gửi gắm nơi đây một ý chí tạo dựng quê hương của các bậc tiền nhân. Cao Lao hương sử có chép rằng:

 

“Trước làng một dãy Kỳ Phong

Tượng hình đẹp đẽ như trông cây cờ...

Cây lên rực rỡ bốn mùa.

Trông lên đỉnh núi mây đưa trùng trùng”

 

Vậy là những người dân nơi đây, từ đời này qua đời khác đã có công lập nên làng xã.

 

Làng ta vốn tên Cao Lao Hạ

Nằm bên bờ dòng nước Linh Giang

Mênh mông Bắc Hải, Nam Sơn

Đông Tây tiếp giáp Kẻ Đờng, Kẻ Chuông.

 

Thật là:

 

“Cao Lao, Hạ Trạch làng mình

Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non…

Làng mình hữu ngạn bờ sông

Ba nguồn nhập lại một dòng trong xanh”[2]

 

Vào những thế kỷ đầu công lịch vùng đất Cao Lao đã là một trong những trung tâm phía Bắc của cộng đồng người Chiêm mà những di tích quý giá của họ còn đến ngày nay. Chẳng hạn, thành Kẻ Hạ (mà người địa phương gọi là Thiềng Kẻ Hạ hay còn gọi là Thành Hời) đã được người Chiêm Thành xây dựng vào thế kỷ thứ III. Hiện nay, tại phía Tây làng Cao Lao Hạ còn hình dáng một bức tường thành vuông vắn, mỗi chiều dài khoảng 200m, cao khoảng 3m, bệ móng dày 5m.

 

Có 3 cửa ra vào, xung quanh có hào sâu, rất kiên cố. Ngày nay hào đã bị lấp làm ruộng lúa, nhưng vẫn còn dễ nhận thấy. Các ruộng lúa rộng khoảng 15m, người địa phương gọi là hào. Sát thành Kẻ Hạ còn có đường Thượng Đạo và các địa danh kề cận đó còn sót lại đến ngày nay như Tào Voi, Tào Ngựa (nơi đồn trú của voi, ngựa). Thảo Ốc (nơi đựng cỏ cho voi, ngựa) cho phép đoán định nơi đây từng là cơ sở hậu cần của một đồn binh to lớn. “Năm 1774, tướng Trịnh là Ngũ Phúc Nguyên đưa các quân binh thầm lặng tiến lên vượt sông Gianh ban đêm, rạng ngày họ đã ở bên bờ sông phía Nam và đóng trại tại Cao Lao”. (Khâm định Việt sử - theo Cadière). Các thế lực phong kiến trong quá khứ thường đồn trú ở Cao Lao là điều không lạ, vì gần 450 năm trước, dưới con mắt của quan văn Dương Văn An cũng đã từng nhìn thấy, “Làng Cao Lao có địa hình kiên cố”. (Ô Châu cận lục – Dương Văn An).

 

Người dân Cao Lao Hạ rất thân thuộc với cánh đồng mang tên Đồng Phố, nằm phía sau làng, kề cận sông Gianh. Ngày nay, người lao động trên cánh đồng này thường bắt gặp dưới lòng đất những mẫu gạch, ngói vỡ mà không biết tự đâu tới. Có người lý giải địa danh Đồng Phố qua lời miêu tả của giáo sĩ, nhà khoa học người Pháp  Cadière khi ông đến khảo sát vùng đất này cách đây hơn 100 năm trước: “Vượt sông Gianh chúng ta chính thức vào lãnh thổ miền Nam. Ngay trên bờ sông có một cái phố lớn”. Nếu miêu tả của ông Cadière trong tác phẩm của ông đúng là Đồng Phố ở Cao Lao thì làng Cao Lao Hạ quả còn là một diện mạo khác nữa. Rất huy hoàng trong quá khứ.

 

Nằm kề cận Đồng Phố này còn có một lạch hói chảy từ Hói Hạ lên Sác Biền, xưa kia được người Chiêm Thành khơi đào cho thuyền bè đi lại. Có thể là thuyền bè chuyên chở hàng hóa vào phố để bán buôn. Bởi vậy, ca dao vùng này còn lưu lại:

 

Xưa kia đường phố đất liền

Quân Chiêm đào hói cho thuyền vào ra.

 

Một dấu tích văn hóa còn lại của cộng đồng người Chiêm Thành. Vào thế kỷ thứ XVI, trong sách Ô Châu cận lục do tiến sĩ Dương Văn An[3] biên soạn năm Ất Mão, niên hiệu Cảnh Lịch, đời Mạc Phúc Nguyên (1553) ở mục Đồ bản ghi Châu Bố Chính có 69 xã thì có đến 3 xã mang danh Cao Lao này. Về sau trong năm đầu của thế kỷ XX, ta còn gặp ở huyện Bố Trạch một tổng Cao Lao rộng lớn với 20 làng, trang, phường, xã. Ắt hẳn mảnh đất này là mảnh đất văn hiến và trù phú hàng đầu nên mới có tên làng trùng với tên tổng (Cao Lao) của huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.

 

Đất Cao Lao này là vùng đất dung nạp mọi người từ khắp nơi kéo về đây sinh cơ lập nghiệp. Họ vốn là người xứ Thanh, Nghệ hoặc từ ngoài Bắc vào trong sự điều chuyển tự nhiên để kiếm kế sinh nhai đã lần lượt về đây lập quê hương mới là Kẻ Hạ.

 

Đời Hồng Đức nhà Lê. Năm 1471 vua Lê Thánh Tông đem quân đánh Chiêm Thành. Thắng trận, nhà vua liền xuống chiếu kêu gọi dân các tỉnh phía Bắc di cư lập ấp, lập làng ở Châu Bố Chính. Lúc bấy giờ, trên vùng đất này dân cư thưa thớt, địa hình hoang vu, hiểm trở, rừng núi lau sậy bạt ngàn. Các bậc tiền nhân làng Cao Lao Hạ, đã phải trải qua biết bao gian truân, vất vả từ đời này qua đời khác lần lượt khai khẩn những cánh đồng, nương rẫy, đồi núi. Họ đã biến miền đất hoang thành một vùng đất trù phú, màu mỡ.

 

Vào thế kỷ thứ 17, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, dân miền Bắc lại di cư vào đất Kẻ Hạ ngày càng đông. Những người dân nơi đây lại phải vào rừng khai hoang mở rộng diện tích canh tác. Núi rừng Lệ Đệ rậm rạp, tràn ngập cây cối, có nhiều khu nguyên sinh, đã cung cấp nhiều gỗ quý như: Lim, Sến, Táu, Dạ Hương, Mây song... và thú rừng như: Hổ, Báo, Sơn Dương, Nai, Heo rừng, Khỉ, Vượn, chim muông...Chính những người dân nơi đây đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ nhau để chống lại thú rừng và bệnh tật. Họ biết tận dụng thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình. Hương sử Cao Lao đã nói về cánh rừng này như sau:

 

...”Nai vàng lẫn lộn lá vàng

Bướm vàng giỡn là trong làn gió thu

Cành suôn vượn, khỉ ra đu.

Biết bao cảnh đẹp trong khu rừng làng...

Miền này cũng lắm hoa thơm

Phong lan phảng phất đưa tầm hương xa”...

 

Có lẽ nhờ vào hiện thực bay bổng này mà về sau cố thi sĩ Lưu Trọng Lư, người con ưu tú của làng Cao Lao Hạ đã có một cảm hứng thi ca bất hủ trong bài thơ Tiếng thu:

 

“...Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô...”

 

Sau một thời gian dài khai khẩn nhọc nhằn và oanh liệt của những người đi tìm đất mới, họ mang về đây những tập quán, phong tục, lề thói, kinh nghiệm sống, lối sống, về tín ngưỡng tôn giáo, các vị thánh thần thờ cúng... từ nhiều miền hội tụ, hòa nhập, đan xen nhau tồn tại, dần dà họ khai phá tạo lập, xây đắp, tô bồi để mở ra cánh đồng màu mỡ, dựng nên cảnh làng ngày càng  rộng lớn, trù phú, đông vui và có hình dáng đẹp đẽ như chiếc thuyền Long Châu. Cao Lao hương sử có chép rằng:

 

... “Hướng nhà đều ở nam phương

Hình làng như một chiếc thuyền Long Châu

Làng treo như một cái đầu

Thân làng thứ tự nhịp cầu Ngưu Lang

Đuôi làng phới phở Phụng hoàng

Chia lân xinh đẹp hàng hàng song song

Hai lân một lối đường chung

Có mương nước chảy, có đường đắp cao

Đắp đường bản, xây cống cầu

Hai mươi lân ở chung giao thành làng...”

 

Thật vậy, nhà cửa ở đây được thành lập 20 xóm, sắp xếp song song với nhau, mỗi xóm được xây dựng một con đường rộng hơn 3m, hai bên có mương thoát nước và tất cả mọi ngôi nhà trong làng đều quay mặt về hướng Nam, nơi có núi Kỳ Phong, tượng hình đẹp đẽ như một bức bình phong che chở cho dân làng. Trước làng có đường bản nối liền với các làng khác. Sau làng có đường quan, đường giao thông rộng rãi xuyên qua đường thiên lý Bắc Nam.  Xung quanh làng có lũy tre bảo vệ làm cho làng có cái thế vừa ấm áp, vững chắc có thể che chở cho dân làng mỗi khi có gió mùa đông bắc tràn về.

 

Làng Cao Lao Hạ, một vùng quê trù mật, đồng xanh lúa tốt, hai vụ chiêm mùa, trên dòng sông Gianh thuyền bè đi lại ngược xuôi, chợ quê tấp nập, Trải qua hàng trăm năm khẩn trương xây dựng, các thế hệ người dân làng Cao Lao Hạ đã tạo lập nên nhiều kiến trúc làng xã, có biết bao đình chùa, miếu mạo cùng với những ngôi đền thờ họ khang trang, rộng rãi, được trang trí Long, Ly, Quy, Phượng với kiến trúc truyền thống tọa lạc trang nghiêm, ẩn dưới những cây cổ thụ xum xuê, rợp bóng. Những bức hoành phi, câu đối chữ Hán đứng trầm mặc, chứng kiến sự đổi thế xoay vần của lịch sử, chứng kiến truyền thống hiếu học của cư dân. Thế là làng Cao Lao Hạ ở vào mạch đất tiền sơn, hậu thủy, tả hữu non cao rừng rậm, thôn xóm thuần phong: ‘Chuông trống’, ‘đàn ca’, ‘rồng múa’ muôn đời không cạn, đúng là một nơi:

 

“…Hoành sơn núi cả cũng triều

Có ba sa phụ đáp chiều thiên công

Trước làng một dãy Kỳ Phong[4]

Tượng hình đẹp đẽ như trông cây cờ

Rừng sâu Đá Bạc, Lao Cù

Lệ Lê, Thầy Bói lửng lơ Núi Chùa…

Rừng xanh bát ngát bao la

Tiếng đàn suối chảy, tiếng ca chim mùa…’

    

Mạch đất Cao Lao như vậy, cho nên có người nói rằng đây là một nơi ‘địa linh’ và , nếu là “địa linh” thì thế nào rồi cũng có thời sinh ra ‘Nhân kiệt’! Tuy nhiên, ở làng Cao Lao Hạ này, trước khi có nhân kiệt ra đời, đã có nhiều thế hệ kế tiếp giữ gìn những thuần phong mĩ tục quý giá, có thể nói là những mầm mống dưỡng nuôi, đào tạo nhân kiệt sẵn từ lâu.

 

Trước hết, xin đến với Cao Lao trong những ngày Tết đầu xuân, với tục thi văn, thi võ, lựa chọn khôi nguyên. Những công trình khuyến học, nêu gương các nhà khoa bảng, những hương ước, lệ làng dành chỗ ngồi cao cả giữa đình làng cho những bậc có học vị cao nhất, xưa kia là cơ sở thúc đẩy, động viên sự học hành của người dân làng Cao Lao Hạ. Cũng tại nơi đây, trên mảnh đất này từng có một thiết chế độc đáo gọi là  “Hội nhà văn”. Kiến trúc ba gian  hai chái là nơi thờ phụng các vị tổ sư đạo Nho là bộ mặt văn hiến cộng đồng và cũng là dùng để hội ngộ các môn sinh, sĩ tử các nhà khoa bảng trong làng. Để khuyến khích tinh thần học tập của các con em, làng đã dành một số ruộng học điền, mỗi năm lấy hoa lợi làm phần thưởng cho các nho sinh, sĩ tử học giỏi, cũng như thưởng cho võ sinh, võ sĩ, những người đã thành công trong binh nghiệp. Hàng năm, sáng mồng 4 Tết, làng tổ chức thi khảo, chọn ra người học giỏi, xếp theo thứ bậc và ngay trong ngày hôm đó:

 

‘Đến chiều xem bảng nguyên khôi

Ai mà chiếm được, ăn xôi ruộng làng.’…

 

Một miếng giữa làng rất đáng tự hào. Cũng trong các ngày Tết, người dân Cao Lao Hạ có một tập tục khác là thân hữu đồng môn nhóm họp để đi lễ, đi tết các thầy dạy học mình đang sống và soạn bài văn thơ điếu phúng những thầy dạy mình đã khuất. Đó là thái độ ‘Tôn sư trọng đạo' rất đáng trân trọng. Cao Lao hương sử có chép rằng:

 

‘…Thêm vào một việc cao siêu.

Ngoài ơn cha mẹ còn yêu công thầy.

Sống thời tết nhất lễ bày.

Thác thời lập hội, an bài nhớ ơn…’

 

Cùng với hội nhà văn còn có hội nhà võ. Gọi là nhà nhưng thực ra là một khán đài dành riêng cho những người binh nghiệp và các võ sư, võ sĩ, võ sinh trong làng. Làng Cao Lao Hạ có nhiều thày dạy võ. Các võ sinh ngày đêm luyện tập võ nghệ làm cho không khí ở nông thôn luôn luôn sống động. Những ngày lễ, hội hè, cũng như ngày Tết Nguyên đán làng tổ chức ‘Hội thi’. Những người thắng cuộc đều được nhận giải thưởng của làng, làm cho phong trào luyện tập võ nghệ của làng được liên tục và ngày càng phát triển. Đã xuất hiện nhiều nhân tài, có người đỗ Cử nhân võ như ông Lê Quang Chánh, làm đến chức Đề đốc, ông Lãnh Binh Hòa, Lãnh Binh Niệm, ông Quyền Cửu và nhiều võ sư, võ sĩ đã góp phần hun đúc và làm rạng rỡ thêm truyền thống thượng võ của địa phương.

 

Lại có một tập tục là người nào làm quan trong triều đình với phẩm hàm cao nhất trong làng, tại chức hay đã về hưu đều được phong làm Quan tiên chỉ. Quan tiên chỉ là người có tài năng và đức độ được dân làng hết sức kính trọng, được làng cử một dân đinh phục vụ, giúp đỡ các công việc ruộng vườn sinh sống. Người dân phục vụ quan tiên chỉ được làng miễn mọi thứ tạp dịch đóng góp ở nông thôn. Cứ mỗi năm một lần vào lễ hội, làng tế kỳ yên trước đình Thành hoàng. Quan tiên chỉ đứng lên thay mặt dân làng làm chủ lễ cúng vái và được phần biếu kính. Khi qua đời được làng đưa đón trọng vọng. Đó là quy định của hương ước làng. Cao Lao hương sử có câu:

         

Làng mời những bậc văn khôi

Thanh danh đức độ lên ngồi chủ trương

 

Có lẽ nhờ vào sự khuyến văn khuyến võ như thế nên đến dưới thời nhà Nguyễn, khi chấm dứt chiến tranh, nhân dân yên ổn làm ăn, Cao Lao Hạ trở thành nếp đất văn chương, đời vua nào cũng có người trí giả đứng ra trông coi việc làng, việc xã, xây dựng và cải tạo hương thôn, chăm lo thuần phong mĩ tục, đề cao hương ước, chống áp bức cường quyền và hết lòng xây dựng cho làng quê một cuộc sống văn hóa, lành mạnh, cao đẹp.

 

Trong giới nho sĩ tôn thờ Đạo Khổng quanh vùng có nhận xét cho rằng: Nho sĩ Cao Lao Hạ chăm nghiệp, hiếu học mà tiết kiệm. Cách đây hơn 450 năm, vào thời Mạc Phúc Nguyên trong sách Ô Châu cận lục ông Dương Văn An đã từng nói: ‘Người Cao Lao thích học văn chương, người Cao Lao giỏi làm ăn và giàu có…’ Cao Lao hương sủ cũng đã chép rằng:

 

…’Tổ tiên phúc ấm từ lâu.

Thủ đô theo học có đâu thua người

Tú tài mỗi khóa hơn mười

Cử nhân chứng chỉ vài mươi có rồi

Đệ thất tiến tới không thôi

Lược khoa bác sĩ hải ngoài kĩ sư

Luận trình tiến sĩ có chừ

Toán khoa Lý Hóa cũng dư có người’…

 

Chế độ phong kiến có nhiều điều khắc nghiệt, nhưng mở trường dạy học thì rất tự do. Trường tư mở ở gia đình không cần phải xin phép, không bị quản chế về chương trình giảng dạy. Học sinh các trường tư, thậm chí học riêng với cha, chú đều được thi từ cấp huyện đến tỉnh, Trung ương kể cả thi Hương, thi Hội, thi Đình có thể đạt được danh hiệu Tú Tài, Cử nhân, Phó bảng, Tiến sĩ…ngang cấp và trọng vọng như người học ở trường Quốc Tử Giam của nhà nước phong kiến thi đậu. Những dư âm văn học của người dân Cao Lao Hạ vẫn còn tồn đọng mãi trên một số bài vè, hát nghẹo, chăn trâu, thổi sáo góp phần làm cho đời sống tinh thần của nhân dân thêm phong phú và đa dạng.

 

Cụ Kỳ Sơn-Lưu Trọng Kiến, người làng Cao Lao Hạ, thân phụ của nhà thơ Kỳ Linh-Lưu Trọng Lai và Lưu Trọng Lư. Năm 1922 lúc đi chơi thuyến trên sông Linh Giang (sông Gianh) cùng cụ Hồ Sĩ Tạo quê ở Nghệ An vào dạy học ở Quảng Bình có làm bà thơ Đường tức cảnh:

 

     Trung thu du thuyền

 

Nhâm Tuất chi thu bát nguyệt thiên

Tài qua kì vọng nguyệt nhưng viên

Phong lưu Thái – thú dư hào hứng

Đạo đức Tiên – sinh lãnh nha truyền

Ngâm đáo giang hồ vô tục vận

Chước đồng phong nguyệt túc tiền duyên

Tương đương sư đệ bình thu sắc

Thượng hạ gian lưu tiên hậu thuyền.

 

Dịch thơ: Trung thu chơi thuyền

 

Gặp thu Nhâm Tuất hẳn tiền duyên

Tháng Tám qua rằm, nguyệt vẫn nguyên

Thái – thú khôn ngăn dòng cảm hứng

Tiên- sinh khéo giữ lôi tâm truyền

Sông hồ câu vịnh xa niềm tục

Trăng gió bầu nghiêng sẵn thú tiên

Thu đẹp mặc tình sư đệ ngắm

Xuống lên theo nước trước sau thuyền.

                                   

Trong khung cảnh thanh bình của thôn xóm nhà thơ Lưu Trọng Tuần cũng đã miêu tả một cách sinh động trong bài Cao Lao hương sử:

 

…‘Chăn trâu, chăn nghé, chăn bò

Chiều về địch thổi cùng cho vang đồng

Đàn bà, con nít, đàn ông

Tiếng ca lừng lẫy khi trồng lúa khoai

Đêm về kéo sợi đưa thoi

Sắp vành lợp nón cũng coi ra bề

Con trai con gái đề huề

Ghẹo nhau lời hát không hề dâm ô

Đám ma, đám cưới có hò

Kể ra công đức, chúc trò mừng khen

Ông già lụm cụm vót vèng (vành nón)

Cũng đưa tiếng hát cũng chen giọng trầm

Tuy là thanh đạm âm thầm

Ở trong khung cảnh cao thâm làng nhà’…

 

Đặc biệt bài vè “Cửu Khúc Long Khê” mở đầu bằng hai câu mà đến nay vẫn còn truyền tụng:

 

“Làng ta đại địa giang sơn

Văn ôn, võ luyện thăng quan đời đời”…

 

Và “ Thiên khai thịnh hội quang cường tịnh

    Địa xuất danh hiền duyệt cổ kim”.

(Nghĩa là: Trời mở nơi sầm uất giàu mạnh

Đất sinh người tài danh từng trải xưa nay)

 

Đây là 2 câu đối đã ghi trên hai trụ cổng đình làng. Đình làng là một thời uy nghi, vàng son, rực rỡ. Nhưng qua 2 cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, đình đã bọ phá hủy chỉ còn lại nền móng, khuôn viên và hai trụ cổng đình, ngày nay hai trụ cổng đình đã được trùng tu tôn tạo, trên đó đã tô bồi lại ba câu đối cổ. Qua những bài văn câu đối ấy, người ta thấy người xưa làm văn từ không chỉ để thờ phụng các bậc tiên nho mà còn chính là chốn tâm linh, là một công trình văn hóa để bảo tồn, duy trì và phát huy truyền thống hiếu học của cư dân với khát vọng để học hành, tu rèn để nhập thế. Vì vậy, việc thờ cúng thánh hiền quý ở việc làm, cái học của thánh hiền văn là ngũ kinh, hành là ngũ luân. Tất cả điều nói trên đây chỉ để khằng định mảnh đất này, một vùng sơn thanh, thủy tú đã từng có một không khí văn hiến, có cái truyền thống nối đời học đạo góp phần hun đúc nên những phẩm chất, những nhân cách tốt đẹp của nhân tài.

 

Từ đó, trên mảnh đất làng Cao Lao Hạ, thế hệ này qua thế hệ khác đã xuất hiện nhiều con người tài năng, đức độ vượt trội mà tên tuổi và sự nghiệp của họ vẫn còn ghi đậm. Nhất là từ triều đình nhà Nguyễn đến nay đã xuất hiện nhiều nhân tài như các ông:

 

 Vị Phó bảng Lưu Đức Bình, sinh năm 1802, với học nghiệp tinh thuần, làm quan thanh bạch. Đã thi đỗ Phó bảng năm 1853, học hành thông tuệ, cả đời vui thú văn chương, sách vở. Khi được bổ đi làm quan tri huyện ở Nghi Xuân, ông vẫn làm nhà giáo dạy dỗ hàng trăm nho sĩ, sĩ tử trong vùng. Ông làm việc bình dị, gần dân, giữ lòng thanh bạch, ai ai cũng xưng tụng. Chính vì vậy mà khi làm tri phủ ở Thuận An có chỉ dụ của vua Tự Đức đổi về làm việc ở Kinh, nhưng dân thương mến, xin lưu lại 6 năm nữa mới về Kinh nhậm chức Hình bộ viên ngoại lang. Đến năm 60 tuổi ông lâm bệnh xin về quê và mất tại đây. Được tặng thưởng: Hàn Lâm viện thị độc học sĩ. Phó bảng Lưu Đức Bình có con trai là Lưu Điệt – Trong phong trào Cần Vương ông Điệt cùng ông Lê Mô Khải cầm quân kháng chiến chống Pháp tại căn cứ Trại Nái, nay gọi là Ba Trại. Sau khi căn cứ Trại Nái thất thủ ông Điệt ra miền Tây Quảng Bình giúp vua Hàm Nghi kháng chiến chống Pháp. Phó bảng Lưu Đức Bình còn có con trai Lưu Đức Xưng, thi đô cử nhân năm 1884. Trong cuộc nổi dậy của ông Lê Mộ Khải cầm quân kháng chiến chống Pháp ở căn cứ Trại Nái ( 1885-1886), ông Xưng rất ủng hộ. Sau khi Trại Nái thất thủ, ông Lê Mô Khải ra Tuyên Hóa theo phò vua Hàm Nghi, thì sau một thời gian ông Xưng mới ra làm quan cho triều Nguyễn, giữ chức Thượng Thư, đồng tác giả bộ: Đại Nam nhất thống chí cùng với Cao Xuân Dục và Trần Sán, biên soạn pho Hội điển cũng như sách Quảng Bình khoa lục. Hậu duệ cụ Lưu Đức Bình có ông Lưu Trọng Kiến, thi đỗ cử nhân năm 1888, làm đến chức tri huyện, một vị quan thanh liêm, đức độ, phẩm chất trong sạch, làm quan có chích tích tốt, ở đâu dân cũng quý mến; Ông là thân sinh của nhà thơ Lưu Trọng Lư…Hậu duệ cụ Lưu Đức Bình có ông Lưu Đức Tuân, thi đỗ cử nhân năm 1909, làm đến chức tri phủ…

 

Làng Cao Lao Hạ  còn có các bậc khoa cử, làm quan danh tiếng như ông Lưu Lượng, cử nhân năm 1837. Làm Tham tri bộ lại, đã từng đi sứ Trung Quốc. Phó bảng Đặng Văn Thái, sinh năm Tân Mùi (1811) đỗ phó bảng năm 1843, làm quan đến chức Đồng tri phủ. Ông Lê Văn Giản, cử nhân năm 1842, làm quan đến chức tri huyện; là thân sinh ra ông Lê Mô Khải. Ông Nguyễn Khoan Hành, cử nhân năm 1842.  Ông Nguyễn Văn Thụ, cử nhân năm 1873. Ông Nguyễn Văn Khu, cử nhân năm 1876 và một số nhà khoa bảng khác.

 

Về võ quan, người dân làng Cao Lao Hạ luôn nhắc tới ông Lê Quang Chánh. Ông đã thi đỗ cử nhân võ, làm đề đốc. trong phong trào Cần Vương, ông đã cùng ông Lê Mô Khải cầm quân kháng chiến chống Pháp tại căn cứ Trại Nái. Sau ông ra giúp cụ Phan Đình Phùng kháng chiến chống Pháp. Ngoài ra còn có các lãnh binh như Lãnh Hòa, Lãnh Niệm, các võ sư, võ sĩ như ông Quyền Cửu, Võ Sồi, Võ Ngôn, Võ Gỉa, Đội Quyền, Võ Khan… Các ông đã từng cùng ông Lê Mô Khải cầm quân kháng chiến chống Pháp tại căn cứ Trại Nái.

 

Đến thời đại ngày nay, truyền thống văn võ của làng Cao Lao Hạ cũng góp phần sản sinh ra các nhà văn, nhà thơ như nhà thơ Lưu Trọng Tuần, nhà thơ Lưu Kỳ Linh (Lưu Trọng Lai), nhà thơ Lưu Trọng Lư, trung tướng Lê Văn Tri, trung tướng Lưu Bá Xảo, thiếu tướng Lưu Dương, hàng chục giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học đang công tác trên mọi miền đất nước. Và trên mảnh đất này, dòng tộc họ Lê đã xuất hiện một doanh nhân cách đây 166 năm và mất cách đây 107 năm, đó là ông Lê Mô Khải. Ông là biểu tượng cho truyền thống hiếu học ở quê hương và là kết quả của sự giáo dục nghiêm khắc trong gia đình, dòng tộc.

  

Vậy là ông Lê Mô Khải cùng các danh nhân trong làng Cao Lao Hạ xưa và nay, được nhân dân đào tạo, nuôi dưỡng, tô đẹp thêm lịch sử quê hương mình ngày càng rạng rỡ, xứng đáng là một nơi:

 

 “Giang sơn gấm vóc trải bày

Thanh, Cao, Tín, Mỹ ngày ngày mới thêm

Cao Lao tiền thế đặt tên

Cao: Trông vời vợi, Lao: Bền không xiêu…”

   

Như vậy, trên mảnh đất làng Cao Lao Hạ, mảnh đất “Kì Phong Long Khê” hình như thiên nhiên đã ban cho con người một vùng núi non, phong thổ, sông nước chứa đựng nhiều huyền thoại, đầy chất sử thi với cái linh khí thiêng liêng nuôi dưỡng cho tâm hồn người dân mãi mãi gắn bó với quê hương, xứ sở, đi đâu cũng ngưỡng vọng về quê hương và tự hào về nó. Mảnh đất mà người dân vốn nghèo, đã phải chịu đựng biết bao nhiêu cuộc chiến tranh dưới thời phong kiến, thực dân, đế quốc, mảnh đất của những con người lam lũ, chịu nhiều nỗi đắng cay mà luôn đầy sức sống, lạc quan thể hiện cả trên gương mặt và phong cách sống. Họ hài hòa yêu thương nhau và không bao giờ thiếu sự cộng đồng, đoàn kết trước nghĩa lớn. Họ bằng lòng yên vui, yêu quí với những gì mà Tổ quốc ban cho, có trách nhiệm trước sự tồn vong, suy thịnh đối với nơi mình sinh ra, nuôi mình lớn lên cũng như có quyết tâm dựng xây nơi quê cha đất tổ ngày thêm giàu mạnh.

  

Và trên bước đường đổi mới ngày hôm nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng tất cả như đã chứng minh rằng: Người dân làng Cao Lao Hạ, nay là xã Hạ Trạch luôn biết trân trọng, giữ gìn, nâng niu và phát huy các giá trị truyền thống quí giá của làng, biến những giá trị đó thành sức mạnh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương.



[1] Cơm trên ruộng, cá dưới bàu (ruộng có nước)

[2] Trung tướng Lê Văn Tri

[3] Dương Văn An sinh năm 1514; năm 34 tuooit đõ tiến sỹ (1547) đời Mạc Phúc Nguyên; quê làng Tuy Lộc, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình.

[4] Kỳ Phong là núi Kỳ Linh. Một số người Cao Lao lấy núi này mà đặt thương hiệu như Lưu Trọng Kiến (Kỳ Sơn), Lưu Trọng Lai (Kỳ Linh).

Tác giả bài viết: Lê Văn Sơn

Nguồn tin: Nguyên văn chương I cuốn Lê Mô Khải danh tướng Cần vương của Lê Văn Sơn, NXB Thuận Hóa năm 2002

Từ khóa: n/a
Danh Loi- - 17/11/2010 12:14
Bài viết của anh Lê Văn Sơn hay quá. Thực sự anh là người am hiểu sâu rộng về quê hương và rất yêu quê. Cảm ơn anh đã cho chúng tôi nhiều thông tin quý báu về Làng. Tôi tự hào về quê và từ hào vì quê đã sinh ra anh.
quanglinh- - 17/11/2010 20:18
Hay quá, rất mong có được nhiều bài viết tuyệt vời thế này.Cảm ơn anh Lê Văn Sơn một người con yêu quý của làng CaoLao.
Danh Loi- - 24/11/2010 22:06
Rất tiếc vì tôi chưa được gặp Sơn anh bao giờ nhưng thực sự tôi rất cạm phục anh, cạm phục những bài viết của anh. Tôi cứ đọc đi đọc lại những bài viết của anh mà không chán. Anh đã giúp cho con em làng mình biêt rất nhiều tư liệu quý về làng và cả những phân tích đánh giá của anh nữa. Giá mà làng mình có nhiều người tâm đắc với quê như anh và anh Lưu Đức Hải thì hay biết mấy.
Xuân Hiếu- - 30/11/2012 16:17
Lại có bài viết quá xuất sắc, quá kỳ công. Mong sao còn có nhiều bài ca thế này nữa.Tự hào quê mình quá.
Luu Dũng- - 08/10/2015 17:17
Đọc ại thấy khí phách quá
Cao Lao những ngày lập nghiệp
Giờ đã 5 tuổi rồi,
Thôi nôi đi các enh
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image