22:25 ICT Thứ hai, 17/12/2018
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non

Người Cao Lao Hạ»Quân sự

Lê Văn Tri

Thứ sáu - 29/10/2010 13:34
Trung tướng Lê Văn Tri là 1 người con xuất sắc của vùng đất Cao Lao Hạ. Ông tham gia cách mạng từ rất sớm và đã giữ nhiều trọng trách quan trọng trong quân đội. Ông đã được Đảng, Nhà Nước trao tặng nhiều huân, huy chương cao quý.

 

 

Trung tướng Lê Văn Tri (Hồng Lĩnh)

Tên lúc nhỏ là Lê Chiêu Nghi.

Sinh ngày 13/9/1922 (nhằm 04/08 Tân Dậu theo CMND); 09/1921(theo quyết định nghỉ hưu).

Mất 7h30 ngày 29/05/2006 (03/05 Bính Tuất).

Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Trung tướng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.

Quê quán: Xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Trú quán: Số 3A2 Đống Đa, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phần: Dân nghèo.

Năm tham gia cách mạng: Tháng 6 năm 1945. Năm nhập ngũ:Ngày 15 tháng 9 năm 1945.

Ngày vào Đảng CS VN: 12 tháng 10 năm 1946; Chính thức tháng 4 năm 1947.

Năm phong quân hàm cấp tướng:Thiếu tướng tháng 4 năm 1974, Trung tướng tháng 12 năm 1982.

 

Thời gian công tác (do tổ chức cơ quan lập)

 

 

Từ Tháng-Năm

 

 

Đến Tháng-Năm

 

Cấp bậc, chức vụ công tác đã qua ở cơ quan,đơn vị, địa phương nào

 
 

8-1945

9-1945

Tham gia cướp chính quyền Sài Gòn-Biên Hòa

 

10-1945

10-1945

Chiến sĩ, A trưởng, B trưởng, C phó giải phóng Quảng Bình

 

1-1947

12-1947

C trưởng C6 Ba Na Phào

 

1-1948

12-1948

Tỉnh đội phó, tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Bình

 

1-1949

12-1949

D trưởng D274, E18 

 

1-1950

2-1953

E phó, E trưởng E101, E93, F325                 

 

3-1953

6-1954

Học lớp chính trị quân khu 8. Sau về E trưởng E367 

 

7-1954

7-1956

Tham mưu trưởng F367, phó tư lệnh F367 

 

8-1956

1-1961

Học cao xạ ở Liên Xô (thượng tá 1958 )

 

2-1961

10-1963

Tham mưu phó, bộ tư lệnh pháo binh

 

11-1963

7-1964

Phó tư lệnh BTL quân chủng phòng không không quân

 

8-1964

11-1967

Cục phó cục tác chiến bộ tổng tham mưu (đại tá 1966)

 

12-1967

9-1969

Phó tư lệnh BTL quân chủng phòng không không quân

 

10-1969

1-1977

Tư lệnh BTL phòng không không quân (12-1976 là ủy viên dự khuyết BCH TW ĐCS VN khóa 4 ( thiếu tướng 1974 )

 

 

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

Huân chương Độc lập hạng nhất.

Huân chương Quân công hạng nhất.

Huân chương Chiến thắng hạng nhì.

Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.

Huân chương Chiến công hạng nhì.

Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba.

Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng

 

Quá trình tham gia cách mạng:

 

Tháng 6 năm 1945, đồng chí gia nhập Thanh niên Tiền phong ở Biên Hoà. Tháng 8 năm 1945, đồng chí tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn, Biên Hoà. Ngày 15 tháng 9 năm 1945, đồng chí nhập ngũ là Chiến sỹ Giải phóng quân, Chi đội 12 (Lê Trực) tỉnh Quảng Bình. Đồng chí trưởng thành từ Chiến sỹ lên Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng Đại đội 12 (Lê Trực). Năm 1946, đồng chí là Đại đội trưởng, Chi uỷ viên Đại đội 6, Mặt trận Bana, Đường 12, Lào. Năm 1948, đồng chí là Tỉnh đội phó, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Bình kiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 274. Năm 1949, đồng chí là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 274, Trung đoàn 18. Năm 1950, đồng chí là Trung đoàn phó Trung đoàn 161, Tham mưu phó Phân khu Trị Thiên. Năm 1952, đồng chí là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95, Sư đoàn 325, Đảng uỷ viên, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn 95. Sau đó, đồng chí chuyển về Trung đoàn 101, Sư đoàn 325. Tháng 3 năm 1953, đồng chí là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo Phòng không 367, tham gia chiến đấu tại Điện Biên Phủ.

 

 Tháng 9 năm 1954, đồng chí là Đại đoàn phó, Tham mưu trưởng Đại đoàn Pháo Phòng không 367, Đảng uỷ viên Đại đoàn. Năm 1955, đồng chí là Tham mưu trưởng Đại đoàn 367. Năm 1956, đồng chí là Học viện Học viện Pháo binh Lêningrát Liên Xô.  Năm 1957, đồng chí là Đại đoàn phó Đại đoàn 367. Tháng 12 năm 1961, đồng chí là Phó tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh phụ trách pháo phòng không. Tháng 11 năm 1963, đồng chí là Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân. Từ tháng 9 năm 1964 đến tháng 11 năm 1967, đồng chí là Phó cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Tháng 12 năm 1967, đồng chí là Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, Quân chủng Phòng không -Không quân, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng.

 

Từ năm 1969 đến năm 1977, đồng chí là Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Đảng uỷ viên Quân chủng.

Từ ngày 10 tháng 3 năm 1977 đến năm 1987, đồng chí là Chủ nhiệm, Bí thư Đảng uỷ Tổng cục Kỹ thuật.

Đồng chí là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IV, là Đại biểu Quốc hội khoá VII.

Tháng 10 năm 1987, đồng chí được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Tác giả bài viết: Lê Quang Minh

Từ khóa: Lê Văn Tri
le quang minh- - 30/10/2010 10:07
thời gian công tác do tổ chức cơ quan lập sai và thiếu .từ 10/1969 đến 10/1977 đồng chí là Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Đảng uỷ viên Quân chủng. Từ ngày 10 tháng 3 năm 1977 đến năm 1987, đồng chí là Chủ nhiệm, Bí thư Đảng uỷ Tổng cục Kỹ thuật
tuanVDB- - 10/11/2010 10:06
Ban Biên tập đã xây dựng trang web rất hay và dễ xem! Để tỏ lòng kính phục, khi nêu tên các bậc tiền nhân, BBT nên thêm vào trước Danh xưng Ông, Bà, Trung tướng ....
Le Quoc Cuong- - 27/02/2011 22:00
Tóm tắt tiểu sử - Trung tướng Lê Văn Tri 1. Họ và tên: Lê Văn Tri (Hồng Lĩnh) 2. Năm sinh: tháng 9 năm 1920. 3. Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Trung tướng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật. 4. Quê quán: Xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. 5. Trú quán: Số 3A2 Đống Đa, phường 2, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. 6. Thành phần: Dân nghèo. 7. Năm tham gia cách mạng: Tháng 6 năm 1945. 8. Năm nhập ngũ: Ngày 15 tháng 9 năm 1945. 9. Ngày vào Đảng CS VN: Ngày 12 tháng 10 năm 1946; Chính thức tháng 4 năm 1947. 10. Năm phong quân hàm cấp tướng: Thiếu tướng tháng 4 năm 1974, Trung tướng tháng 12 năm 1982. 11. Quá trình tham gia cách mạng: Tháng 6 năm 1945, đồng chí gia nhập Thanh niên Tiền phong ở Biên Hoà. Tháng 8 năm 1945, đồng chí tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn, Biên Hoà. Ngày 15 tháng 9 năm 1945, đồng chí nhập ngũ là Chiến sỹ Giải phóng quân, Chi đội 12 (Lê Trực) tỉnh Quảng Bình. Đồng chí trưởng thành từ Chiến sỹ lên Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng Đại đội 12 (Lê Trực). Năm 1946, đồng chí là Đại đội trưởng, Chi uỷ viên Đại đội 6, Mặt trận Bana, Đường 12, Lào. Năm 1948, đồng chí là Tỉnh đội phó, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Bình kiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 274. Năm 1949, đồng chí là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 274, Trung đoàn 18. Năm 1950, đồng chí là Trung đoàn phó Trung đoàn 161, Tham mưu phó Phân khu Trị Thiên. Năm 1952, đồng chí là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95, Sư đoàn 325, Đảng uỷ viên, Bí thư Đảng uỷ Trung đoàn 95. Sau đó, đồng chí chuyển về Trung đoàn 101, Sư đoàn 325. Tháng 3 năm 1953, đồng chí là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo Phòng không 367, tham gia chiến đấu tại Điện Biên Phủ. Tháng 9 năm 1954, đồng chí là Đại đoàn phó, Tham mưu trưởng Đại đoàn Pháo Phòng không 367, Đảng uỷ viên Đại đoàn. Năm 1955, đồng chí là Tham mưu trưởng Đại đoàn 367. Năm 1956, đồng chí là Học viện Học viện Pháo binh Lêningrát Liên Xô. Năm 1957, đồng chí là Đại đoàn phó Đại đoàn 367. Tháng 12 năm 1961, đồng chí là Phó tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh phụ trách pháo phòng không. Tháng 11 năm 1963, đồng chí là Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân. Từ tháng 9 năm 1964 đến tháng 11 năm 1967, đồng chí là Phó cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Tháng 12 năm 1967, đồng chí là Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, Quân chủng Phòng không -Không quân, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng. Từ năm 1971 đến năm 1977, đồng chí là Tư lệnh Quân chủng Phòng không -Không quân, Đảng uỷ viên Quân chủng. Từ ngày 10 tháng 3 năm 1977 đến năm 1987, đồng chí là Chủ nhiệm, Bí thư Đảng uỷ Tổng cục Kỹ thuật. Đồng chí là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IV, là Đại biểu Quốc hội khoá VII. Tháng 10 năm 1987, đồng chí được Nhà nước cho nghỉ hưu. 12. Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng: Huân chương Độc lập hạng nhất. Huân chương Quân công hạng nhất. Huân chương Chiến thắng hạng nhì. Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất. Huân chương Chiến công hạng nhì. Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba. Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng Những chuyện chưa biết về các kỷ vật của tướng lĩnh Việt Nam Đ/c Lê Văn Tri - (thứ 3 từ trái qua) báo cáo đ/c Lê Duẩn và Thượng tướng Văn Tiến Dũng kế hoạch đánh máy bay B52 1972 Trong lịch sử quân chủng Phòng không - không quân Việt Nam, trận đánh vỗ mặt chính quyền Mỹ - ngụy ngày 28-4-1975 của “Phi đội quyết thắng” là một trang sử hào hùng. Trung tướng Lê Văn Tri, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân đã trao bức ảnh “Phi đội quyết thắng”...... Bảo tàng lịch sử quân sự. Điều thú vị là trong phi đội này ngoài 5 phi công của QĐND Việt Nam, còn có cả một phi công của ngụy được ta cảm hóa... Bức ảnh do phóng viên Xuân át, Cục Chính trị Quân chủng Phòng không- Không quân chụp tại sân bay Thành Sơn- Phan Rang, chiều tối ngày 28 tháng 4 năm 1975. Trên ảnh, 6 phi công vừa rời máy bay, trong tay mỗi người cầm mũ bay, nét cười rạng rỡ, thể hiện nỗi vui mừng khôn xiết sau khi thắng trận trở về. 30 năm trôi qua, không chỉ những phi công tham gia trận này coi đây là trận đánh đáng nhớ. Mà nó là ký ức không bao giờ quên của Trung tướng Lê Văn Tri, nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không, không quân (từ năm 1971-1977). Nhìn vào bức ảnh, vị tướng già sau hơn 50 năm ra trận, cầm quân bồi hồi nhớ lại: “Ngày ấy, “Phi đội quyết thắng” ngoài phi công Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Mai Xuân Vượng, Hán Văn Quảng là của ta, còn có một phi công của Nguỵ ít được biết đến là Nguyễn Văn On”. Ngày 19 tháng 4 năm 1975, Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh lệnh cho Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không- Không quân chuẩn bị cho không quân tham gia chiến dịch. Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định “sử dụng máy bay mới thu được của địch để đánh địch” và giao cho Bộ tư lệnh Không quân gấp rút tổ chức thực hiện. Nhưng cái khó, phần lớn máy bay ta thu được của địch là máy bay A-37 còn khá xa lạ với phi công của ta. Tướng Tri kể: “Tôi quyết định cho hai phi công và một số thợ máy của không quân ngụy mà trước đó mình bắt được ra trình diện, hướng dẫn các phi công ta về kỹ thuật và cách sử dụng máy bay A-37, trong số này có Nguyễn Văn On. Ngày 24 tháng 4, sau hai ngày học tập, các phi công của ta lần lượt tập bay thử thành công”. Ngày 25 tháng 4 năm 1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh điện cho Bộ Quốc phòng đề nghị Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Cho không quân ta dùng máy bay vừa lấy được của địch ném bom vào sào huyệt quân ngụy ở Sài Gòn ngày 28 tháng 4, chỉ đánh ngày này, chậm nữa không được”. Ngay lập tức, chiều 25 tháng 4, Cục Tác chiến chuyển điện cho đồng chí Lê Văn Tri “Đúng 8 giờ sáng ngày 26 tháng 4 lên chỉ huy sở Bộ Tổng tư lệnh nhận nhiệm vụ của anh Văn giao”. Tại Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi tôi: “Hiện ta thu được bao nhiêu máy bay A-37 của địch có thể dùng được?”. Tư lệnh Lê Văn Tri báo cáo: “Thưa Đại tướng, tại Đà Nẵng có một chiếc, phi công đang học lái, còn sân bay Phù Cát, Bình Định có 5 chiếc còn nguyên vẹn, chưa cho bay thử”. Tướng Giáp nói: “Bộ Chính trị đã đồng ý cho không quân ném bom xuống sào huyệt địch nhưng phải sử dụng chính máy bay chiếm được của địch”. Ngay chiều ngày 26 tháng 4 năm 1975, Lê Văn Tri nhận được điện của Đà Nẵng báo ra: “Đồng chí Văn Tiến Dũng đã cho Nguyễn Thành Trung ra sân bay Đà Nẵng”. Lê Văn Tri được Quân chủng giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức, chỉ huy trận đánh. Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định thành lập “Phi đội quyết thắng”, do phi công Nguyễn Văn Lục chỉ huy. 14 h 30 phút ngày 28/4, “Phi đội quyết thắng” được triệu tập để nhận mệnh lệnh chiến đấu tại sở chỉ huy. Tất cả chỉnh tề trong bộ bay với tư thế sẵn sàng ra trận. Mục tiêu oanh tạc là khu vực để máy bay chiến đấu, đường băng, khu để bom đạn của không quân ngụy trên sân bay Tân Sơn Nhất. ý định của Bộ Chỉ huy chiến dịch phải đánh trúng, gây tiếng nổ liên tiếp, làm sao cho cột khói bốc cao để làm ám hiệu phối hợp với quần chúng nổi dậy. Đánh mục tiêu này là một đòn rất hiểm, nhất là lúc Mỹ ngụy chỉ còn đường hàng không duy nhất để di tản. Ngoài việc thực hiện ném bom xuống mục tiêu, một điều tối quan trọng đối với phi đội là phải đảm bảo an toàn cho nhân dân và hai phái đoàn đại biểu quân sự của ta đang trú tại David-Tân Sơn Nhất. Theo kế hoạch đường bay của phi đội được tính toán và lựa chọn phải bảo đảm bí mật, bất ngờ đối với địch, tránh hoả lực phòng không của ta. Đường bay theo hướng Vũng Tàu rồi từ Vũng Tàu vòng về Sài Gòn. Nguyễn Thành Trung thuộc địa hình được phân công bay trước dẫn đường. Các phi công khác bay trong đội hình theo cự ly đã định, bảo đảm canh gác, cảnh giới, có công kích, có yểm hộ. 16 h 15 phút ngày 28 tháng 4 năm 1975, sỹ quan trực chỉ huy trên đài chỉ huy sân bay Thành Sơn bắn hai phát pháo hiệu cho phép phi đội cất cánh, 5 chiếc A-37 lao lên bầu trời. Phi đội tập hợp đội hình Nguyễn Thành Trung (số 1); Từ Đễ (số 2); Nguyễn Văn Lục (số 3); Mai Xuân Vượng và Nguyễn Văn On (số 4); Hán Văn Quảng (số 5). Tất cả phi đội bay vút về phía Nam. Qua sông Sài Gòn khoảng 30 giây, các phi công đã nhìn rõ mục tiêu là sân bay Tân Sơn Nhất. Nguyễn Văn Lục phát hiện hai chiếc AD-6 ở hướng Biên Hoà. Các phi công còn nghe rõ tiếng hỏi dồn dập của địch từ sở chỉ huy sân bay Tân Sơn Nhất: “A-37 của không đoàn nào? A-37 của phi đoàn nào?”. Nguyễn Thành Trung và Từ Đễ bổ nhào xuống mục tiêu, cắt bom. Từ Đễ vừa ấn nút phóng bom vừa trả lời: “Máy bay của Mỹ đây!”. Sau loạt bom, lửa khói trùm lên khu vực máy bay địch đang đỗ. Nguyễn Văn Lục, Mai Xuân Vượng, Nguyễn Văn On và Hán Văn Quảng cũng lần lượt vào công kích, cắt hết bom họ quay ra yểm hộ cho nhau. Lửa khói bốc lên dữ dội. Tiếng bom nổ rung chuyển cả thành phố Sài Gòn. Lúc này tất cả các phi công đều nghe thấy tiếng la hét, hoảng loạn của quân ngụy từ sở chỉ huy sân bay: “Chết cha rồi! Việt cộng, pháo kích, Việt cộng oanh kích”. Quân địch kinh hoàng vì bị bất ngờ, không quân và pháo cao xạ sân bay không kịp phản ứng gì. “Phi đội quyết thắng”, trong đó có Nguyễn Văn On (thứ 3 từ trái qua) Tại đài chỉ huy sân bay đã chuẩn bị sẵn sàng cho phi đội hạ cánh. Đồng chí trợ lý tác chiến cách mấy chục giây lại gọi một lần: “Sao băng” đâu? “Sao băng” đâu? “Bắc đẩu” gọi nghe rõ trả lời! Lúc này, trời đã tối sẫm, kim đồng hồ chỉ 18h 15phút. Từ Đễ và Nguyễn Thành Trung hạ cánh trước. Tiếp đó là Mai Xuân Vượng và Nguyễn Văn On, Hán Văn Quảng, Nguyễn Văn Lục. Tất cả hạ cánh an toàn. Tất cả mọi người ùa ra ôm hôn các phi công, mừng đến nỗi chẩy cả nước mắt, thật là một trận đánh hiếm có. Kết quả trận đánh đã vượt qua con số 24 máy bay bị phá huỷ, hàng trăm binh lính và sỹ quan ngụy bị tiêu diệt. Ngày 29 tháng 4, Mỹ buộc phải tổ chức “chiến dịch” di tản mang tên “Người liều mạng” bằng máy bay lên thẳng để đưa những người Mỹ cuối cùng và một số tay sai ra khỏi Sài Gòn. Trong niềm vui lớn ấy, Tư lệnh Lê Văn Tri đã viết trong hồi ký của mình những câu thật xúc động “Đợi chờ một ngày, chờ có một ngày và hôm nay ngày ấy đã đến”. Rồi vị Tư lệnh lẩm nhẩm đọc vài câu thơ: “Một tiếng bom nổ từ sân ga/Vang lên tiếng hát bản hùng ca/ Nhớ mãi không quân ngày đại thắng/Thống nhất muôn đời Tổ quốc ta…”.Những chuyện chưa biết về các kỷ vật của tướng lĩnh Việt Nam Đ/c Lê Văn Tri - (thứ 3 từ trái qua) báo cáo đ/c Lê Duẩn và Thượng tướng Văn Tiến Dũng kế hoạch đánh máy bay B52 1972 Kỷ niệm Ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam 22-12-2007 “Điện Biên Phủ trên không” – chuyện bây giờ mới kể Ngày 19-7-1965, khi đến thăm một trung đoàn pháo cao xạ của sư đoàn phòng không Hà Nội, Bác Hồ căn dặn: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B-57, B-52 hay “bê” gì đi chăng nữa, từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Và ngay từ giữa năm 1966, đã có một sự chuẩn bị kỹ càng và vạch ra các phương án chủ động đánh B-52 để dẫn đến kết quả vang dội: chiến thắng “pháo đài bay” B-52 của không lực Mỹ quyết tâm tàn phá Hà Nội trong 12 ngày đêm tháng 12-1972. Những người trong cuộc của chiến thắng 35 năm trước kể lại với TT những câu chuyện bây giờ mới kể. Đại tướng Võ Nguyên Giáp duyệt phương án đánh B-52 của quân chủng phòng không - không quân tháng 12-1972 - Ảnh tư liệu 35 năm sau ngày chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, trong căn nhà nhỏ trên đường Trường Chinh, quận Đống Đa (Hà Nội), thượng tướng Phùng Thế Tài, tư lệnh đầu tiên của quân chủng phòng không, kể rằng năm 1962 ông được Bác Hồ gọi lên. Bác hỏi: “Giờ chú là tư lệnh phòng không, vậy chú đã biết gì về B-52 chưa?”. Ông thành thật thưa: “Cháu chưa biết gì về B-52”. Bác cười và nói: “Nói thế thôi chứ chú biết cũng chưa làm gì được nó. Nó bay trên cao 10 cây số (10.000m) mà trong tay chú hiện nay mới chỉ có pháo cao xạ thôi. Nhưng ngay từ lúc này, là tư lệnh bộ đội phòng không, chú phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến loại máy bay B-52”. Tên lửa phòng không SAM-2 Từ đó, ông Tài bắt đầu để tâm nghiên cứu loại máy bay này, chỉ thị các cơ quan tác chiến, quân báo bằng mọi cách phải thu thập toàn bộ các tính năng, tác dụng của loại “pháo đài bay”. “Làm sao để đánh được B-52, đánh thế nào, nếu B-52 vào Hà Nội thì sao là điều tôi cứ trăn trở suy nghĩ mãi”, ông Tài nhớ lại. Tháng 10-1963, bộ đội phòng không và bộ đội không quân có quyết định hợp nhất lại thành quân chủng phòng không - không quân, ông Tài được bổ nhiệm là tư lệnh đầu tiên của quân chủng. Ông Đặng Tính - nguyên cục trưởng Cục Không quân - được bổ nhiệm là chính ủy quân chủng. Lúc ấy không quân Việt Nam còn rất mỏng, chỉ có một đơn vị máy bay vận tải, còn một trung đoàn Mig-17 thì đang huấn luyện ở nước ngoài. Ngày 5-8-1964, cuộc tiến công xâm lược qui mô lớn đầu tiên của không quân Mỹ vào miền Bắc được đặt tên là “Mũi tên xuyên”, đánh phá khu vực Bến Thủy (Vinh), Lạch Trường (Thanh Hóa), Hòn Gai (Quảng Ninh) và Cảng Giang (Quảng Bình). Nhưng không quân Mỹ đã bị một thất bại lớn, vô cùng bất ngờ và choáng váng: tám trên tổng số 64 lần chiếc máy bay cất cánh đã bị bắn rơi. Trong trận này ta bắt được một giặc lái, ông Tài đã chỉ thị cho khai thác tên giặc lái này về tính năng, tác dụng của B-52. Ngày 18-6-1965, 30 chiếc B-52 đã được không quân Mỹ thực hiện cuộc ném bom rải thảm đầu tiên trên thế giới vào khu Bến Cát, tây bắc Sài Gòn, hòng cứu vãn tình thế khi cuộc nổi dậy của quân dân ở miền Nam Việt Nam ngày càng phát triển quyết liệt. Kể từ đó cường độ hoạt động của máy bay B-52 ngày một tăng. Để đối phó với tình hình, một trung đoàn tên lửa phòng không SAM-2 đã được thành lập. Bác Hồ rất quan tâm đến điều này, bởi SAM-2 chính là đối thủ của B-52 lúc đó. Chuyển tên lửa vào vị trí - Ảnh tư liệu “Muốn bắt cọp phải vào tận hang” Chỉ một tháng sau ngày Mỹ đưa B-52 vào miền Nam, tháng 7-1966 Bộ tư lệnh quân chủng phòng không - không quân đã điều trung đoàn 238 (gồm các tiểu đoàn 81, 82, 83, 84) vào Vĩnh Linh, Quảng Trị tìm cách đánh B-52. Ông Tài nhớ lại: “Khi tôi báo cáo kế hoạch đưa tên lửa vào đánh B-52 ở Vĩnh Linh, Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi nói: Đúng! Muốn bắt cọp thì phải vào tận hang”. Ngày 2-9-1967, theo thông lệ hằng năm, ông Tài lên gặp Bác Hồ báo cáo tình hình chiến đấu của bộ đội phòng không - không quân. Bác khen những thắng lợi mà quân dân Hà Nội đã lập được, rồi bất ngờ hỏi ông: “Thế còn B-52 đâu?”. Câu hỏi đó làm ông day dứt. Sau đó, ông Đặng Tính được Bộ tư lệnh quân chủng phòng không - không quân cử vào Vĩnh Linh kiểm tra tình hình trung đoàn 238, cùng đi có đoàn cán bộ của tư lệnh tên lửa do ông Hoàng Văn Khánh - phó tư lệnh binh chủng tên lửa - dẫn đầu trực tiếp chỉ đạo trung đoàn 238 quyết tâm bắn rơi bằng được B-52. Đêm 17-9-1967, từ Vĩnh Linh, Quảng Trị, trung tướng Hoàng Văn Khánh báo tin vui: trung đoàn 238 đã bắn rơi máy bay B-52 trên bầu trời Vĩnh Linh. Ông Tài run lên vì vui sướng, phải báo cáo ngay với Bác Hồ. Khi đó ông Đặng Tính bảo thôi để sáng mai thưa với Bác, nhưng ông thấy không yên tâm. Sau khi liên hệ được với ông Vũ Kỳ (thư ký của Bác) được biết phòng làm việc của Bác còn sáng, ông Tài đã gọi cho Bác. Chưa kịp báo tin thì Bác đã hỏi: “Chú Tài đấy à, có chuyện gì thế? Bắn rơi B-52 rồi phải không?”. Tháng 10-1967, ông Tài chính thức nhận nhiệm vụ phó tổng tham mưu trưởng, đặc trách cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, với nhiệm vụ chuẩn bị phương án chiến đấu bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng trong tình huống đối phương sử dụng B-52. Đầu năm 1968, khi đến thăm quân chủng cùng với đại tướng Hoàng Văn Thái, Bác Hồ bảo (đại ý): “Nếu chỉ có lòng căm thù giặc và tinh thần xả thân vì nước vẫn chưa đủ thắng lợi. Các chú phải chú ý đào tạo thật nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật, nghiên cứu kỹ kẻ thù thì mới trăm trận trăm thắng”. Ngay sau đó, ông Tài cùng ông Đặng Tính, Lê Văn Tri và quân chủng xây dựng được phương án đánh B-52. Ngày 31-10-1972, tại hội nghị quân chính, tài liệu “Cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa” đã được đưa ra bàn bạc kỹ lưỡng. Đây được xem như là “hội nghị Diên Hồng” bàn cách đánh B-52. Hội nghị này đã mang đến cho mọi người niềm tin: chúng ta có thể bắn rơi B-52 tại chỗ! "Đúng B-52, mục tiêu sắp bay vào khu vực Hà Nội". Lập tức tư lệnh quân chủng ra lệnh cho các lực lượng phòng không - không quân chuẩn bị đánh B-52. Điện Biên Phủ trên không” – chuyện bây giờ mới kể Chiến sĩ rađa vạch nhiễu phục vụ các đơn vị phòng không thủ đô đánh thắng B-52 Ảnh tư liệu Cuối tháng 11-1972, không quân Mỹ đẩy mạnh chiến thuật sử dụng tên lửa đánh phá các đài rađa ở chiến trường Quân khu 4 nhằm chặt đứt việc đảm bảo rađa cho các lực lượng phòng không của ta. Song quyết tâm phát hiện, thông báo B-52 và các loại máy bay khác của các lực lượng phòng không đã đảm bảo cho tình huống không bị bất ngờ. Kịp thời Theo đại tá Nghiêm Đình Tích (nguyên đài trưởng rađa P.35 - đại đội 45 - trung đoàn rađa 291 ngày ấy), vào ngày 18-12-1972, mức độ đánh phá của không quân Mỹ ở Quân khu 4 giảm đột ngột. Đặc biệt tất cả các đài rađa mở máy trực ban đều không bị nhiễu tích cực và không phát hiện được máy bay B-52. Thấy tình hình khác lạ, ban chỉ huy trung đoàn nhận định: đề phòng Mỹ sử dụng B-52 đánh lại Thanh Hóa, hết sức chú ý B-52 đánh ra Hà Nội. Nhận định đó được phổ biến ngay cho các cơ quan và đơn vị. 16g40, trên bản đồ thu mạng tình báo quốc gia B1 xuất hiện hai tốp máy bay tiêm kích F-111 từ Sầm Tơ (Lào) bay về phía Yên Bái. Chỉ huy trung đoàn nhất trí nhận định: có khả năng diễn ra tình huống đã dự kiến. Lập tức trung đoàn trưởng Đỗ Năm chỉ thị cho đại đội 16 là đơn vị đang mở máy trực ban trong phiên 18-20 giờ tập trung quan sát phát hiện mục tiêu, đặc biệt chú ý phát hiện B-52. Trong khi đó, trên các màn hiện sóng rađa của đại đội 16 ở Nghệ An xuất hiện một số dải nhiễu mới. Do đã có kinh nghiệm chiến đấu, đại đội trưởng Trần An và chính trị viên Trịnh Đình Nham đã thống nhất nhận định tình hình và ra lệnh cho các đài rađa chống nhiễu phát hiện B-52. Trong giây lát, trắc thủ đài 843 Tô Trọng Huy và trắc thủ đài 514 Phạm Quốc Hùng khẳng định ngay đó là B-52 và báo cáo với đại đội trưởng: “Có khả năng B-52 đánh vào miền Bắc”. Báo cáo đó từ đại đội 45 qua sở chỉ huy trung đoàn lên tới tổng trạm rađa ở Hà Nội. Lúc đó là 19g10. Nhận được báo cáo, tham mưu phó binh chủng báo cáo với tư lệnh quân chủng Lê Văn Tri: Đúng là B-52 đang vượt qua vĩ tuyến 20. Có khả năng B-52 đánh vào Hà Nội. Lập tức tư lệnh quân chủng ra lệnh cho các lực lượng phòng không - không quân chuẩn bị đánh B-52. Cũng trong giây phút đó, thủ đô Hà Nội và các tỉnh trên miền Bắc được lệnh báo động phòng không để nhân dân kịp thời xuống hầm trú ẩn. Đường chì lịch sử Một góc phố Khâm Thiên sau khi Mỹ dội bom B-52 - Ảnh: Chu Chí Thành Báo vụ viên Nguyễn Thị Hường, binh nhì, trung đội 3, đại đội 3 - lữ đoàn thông tin 26, bây giờ ở tại phố Sơn Hòa (Hải Dương). Tháng 12-1972, trước ngày bước vào chiến dịch “mặt trận trên không 12 ngày đêm”, Hường vừa tròn 18 tuổi và được phân công là báo vụ viên chính thức của đơn vị, đảm bảo hướng tây - nam, một trong những hướng trọng yếu hồi đó (khi đó Hường mới tròn một tuổi quân). Giờ đây, ở tuổi gần 60, bà Hường vẫn nhớ như in về phiên trực tham gia phục vụ chiến đấu tại sở chỉ huy quân chủng trong đêm 18-12-1972. Bà kể: “Phiên ban mới do đại đội 3 của tôi đảm nhiệm được bắt đầu từ 17 giờ 30 ngày 18-12-1972. Sau khi kiểm tra thật chu đáo mọi phương tiện đảm bảo cho phiên trực, tay phải cầm ba chiếc bút chì đỏ, xanh, đen (đỏ để đánh dấu đường bay của máy bay ta; xanh, đen đánh dấu đường bay máy bay Mỹ), tay trái hết chỉnh máy lại áp chặt thêm tai nghe, tôi cố tập trung hết thính lực về phương xa như để đón chờ những tín hiệu tình báo”. Nhưng khi đó hướng mà báo vụ viên Hường được phụ trách lại không có mục tiêu, liếc nhanh sang các hướng khác vẫn không thấy động tĩnh gì. Trên không lúc này yên tĩnh đến lạ thường... Bỗng nhiên, như đã “sờ” được tín hiệu từ đài bạn, Hường dừng tay chỉnh máy, mở to mắt, tai lắng nghe từng tiếng“tịch, tè”, rồi đột nhiên dồn dập, tiếng rào của máy thu tăng dần không như những tín hiệu thường ngày. Với linh cảm của mình, Hường nhận rõ mục tiêu đã xuất hiện dù khi đó tín hiệu còn rất mỏng manh. “Tôi tập trung nghe thật rõ từ khởi điểm, đầu tốp, số lượng, thời gian, kiểu loại đến độ cao mục tiêu. Rồi đối chiếu với tín hiệu đã qui ước, tôi biết từ trạm rađa cách đó hàng trăm cây số, đồng đội đã khẳng định kẻ thù mới xuất hiện: đó chính là B-52”, bà Hường kể. Lập tức một đường chì xanh, nét đậm, đường bay thẳng hơn các loại “ép” và một “mũi” của nó đi dài hơn được báo vụ viên Hường đưa lên trên bảng tiêu đồ. Lúc này, cả sở chỉ huy sôi lên, lần này là B-52 nên sự sôi động lúc này mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Sau vài giây như để thống nhất nhận định, tư lệnh quân chủng Lê Văn Tri ra lệnh: “Báo động B-52”, tiếp đó là lệnh “Tập trung tiêu diệt tốp B-52” của phó tư lệnh. Như đồng thời với các mệnh lệnh đó, cả Hà Nội dậy lên hiệu lệnh báo động chiến đấu. Lúc đó là 19 giờ 15. Những đường chì xanh, đậm nét trên bảng tiêu đồ, theo nhịp tay của Hường cứ kéo dài, kéo dài mãi từ hướng biên giới tây - nam đang lao thẳng về phía Hà Nội. 19g40 ngày 18-12-1972, Mỹ huy động 90 lượt máy bay B-52 và 135 lượt máy bay chiến thuật đánh liên tiếp ba đợt vào các sân bay Kép (Bắc Giang), Nội Bài, Gia Lâm (Hà Nội), Hòa Lạc (Hà Tây), Yên Bái, các khu vực huyện Đông Anh, Yên Viên, Đức Giang, cơ sở phát sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam ở Mễ Trì. Cùng thời gian đó, Mỹ huy động 28 lượt máy bay của hải quân đánh vào thành phố Hải Phòng. 19g45, tiểu đoàn 78, trung đoàn 257 đã phóng những quả đạn đầu tiên mở màn cho trận đánh. Đại tá Nghiêm Đình Tích nói: “Trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 (từ 18 đến 29-12), trung đoàn rađa 291 là trung đoàn duy nhất đã phát hiện B-52 từ xa, bảo đảm cho Tổ quốc không bị bất ngờ trước chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng. Vì vậy, các lực lượng phòng không ở khu vực Hà Nội đã chuyển cấp chiến đấu sớm, bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 ngay từ trận đầu, đêm đầu của chiến dịch”. Đánh B-52! Tất cả mới chỉ là trên lý thuyết và những bài luyện tập theo phương án. Còn bây giờ B-52 vào, sẽ đánh ra sao đây? Kỳ tới: Đọ sức Đội hình phi đội Quyết Thắng với loại máy bay A.37 vừa lấy được của không quân ngụy trên bầu trời từ sân bay Thành Sơn vào tấn công sân bay Tân Sơn Nhất chiều 28/4/1975 Ảnh: Xuân Minh Sau giây phút cả Xanh và On sững sờ đã rất phấn khởi, hai mắt vụt sáng bừng lên: “Thế là cách mạng đã tin mình, mở đường cho mình đi!”. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, bằng 5 chiếc máy bay A.37 vừa đoạt được, không quân ta đã bất ngờ ném bom chính xác vào khu vực để máy bay của địch ở Tân Sơn Nhất. Chiến công đặc biệt này đã góp phần rút ngắn thời gian cho Đại quân ta tổng công kích giải phóng Sài Gòn. Trước đó 5 ngày khi vừa thu gom máy bay vừa bay thử và chuẩn bị cho trận đánh, ta đã sử dụng hai phi công ngụy bị bắt sống là Trần Ngọc Xanh và Trần Văn On. Hôm ấy 19/3/1975, vừa lúc sáng dậy, bọn Xanh đã rất bàng hoàng. Tối qua, đại tá Thái Bá Đệ, Không đoàn trưởng của Xanh còn nói: “Các anh cứ yên chí! Việt cộng có đến được Đà Nẵng nhanh nhất cũng phải nửa tháng nữa. Chúng ta đã dồn cả lực lượng Quân đoàn 1 về cố thủ ở đây. Tướng Lê Quang Trưởng và cả tướng Nguyễn Đức Khánh đã thề: “Cộng sản chỉ có thể bước lên xác tôi mới chiếm được Đà Nẵng”. Vậy mà giờ đây phía Bắc từ Thừa Thiên xuống, phía Nam từ Quảng Nam lên, súng của quân giải phóng đã nổ dồn khắp nơi. Rồi pháo, pháo của quân Giải phóng từng đợt, từng đợt nổ dồn dập trên sân bay, trong sở chỉ huy Quân đoàn 1 và cả bán đảo Sơn Trà… Theo lời kêu gọi của ủy ban quân quản thành phố Đà Nẵng, bọn Xanh ra trình diện với cách mạng. Qua những ngày ở trại học tập rồi đến khi được cán bộ của không quân ra chọn Xanh và On vào làm việc trong sân bay, tiếp xúc với nhiều đồng chí ta: cán bộ chỉ huy, phi công, thợ máy, chiến sĩ cảnh vệ, nuôi quân… Những điều bị tuyên truyền về Việt cộng trước đây càng mất dần trong tâm trí của Xanh. Xanh nói: “Ngay ngày đầu tiên vào sân bay, điều em thấy rất lạ là: Các anh sống với nhau rất chan hòa, đầm ấm, bình đẳng. Rõ ràng là kỷ luật của các anh rất nghiêm, nhưng chỉ huy chẳng bao giờ quát mắng, xúc phạm cấp dưới. Người nào cũng tỏ ra có văn hóa, không chửi thề, nói năng tục tĩu như lính Cộng hòa chúng em. Trong sinh hoạt, ông thủ trưởng cao cấp, gần đây em biết ông là Tư lệnh quân chủng của các anh, rất giản dị, hòa đồng, nhiều lúc ngồi chơi cờ với lính. Đối với chúng em tuy rằng có lỗi, có tội ác với nhân dân, đã từng cầm súng chống lại các anh, nhưng các anh đều tôn trọng nhân phẩm, rất độ lượng và còn thương đã lầm đường, lạc lối nữa. Hôm trước, khi anh On, phi công của quân đội Cộng hòa như em chuyển đến sân bay mới bỏ quên chăn màn ở trại. On đang băn khoăn thì anh Từ Đê đã lấy xe đi tìm khắp các kho. Tối lâu rồi, anh vẫn cố tìm bằng được chăn màn về cho On”. Tôi tin Xanh đã nói thật lòng. Nhưng những ngày trước đây, khi Xanh mới từ trại Phi Hổ vào cộng tác với Phi đội Quyết Thắng của chúng tôi, không phải dễ dàng Xanh đã bộc lộ được rõ tâm tư, quan điểm cũng như mới chỉ thấy được phần nào nguyên nhân thất bại của quân đội cộng hòa. Sự biến đổi thấy rõ ở Xanh là từ sau chuyến Xanh được bay thử máy bay vừa rồi. Phải nói, đấy là một quyết định rất táo bạo của đồng chí Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri mà chính Xanh lúc nghe lệnh cũng không tin vào tai mình. Ngày hôm sau 28/4, phi đội Quyết Thắng của ta được lệnh tiến công ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Muốn thế phải bay thử thêm hai máy bay mới thu được nữa của địch. Ai sẽ bay thử hai máy bay này? Các chiến sĩ trong phi đội Quyết Thắng vừa bay tập suốt ngày, hơn nữa lại vừa chuyển từ một sân bay khác về. Với tinh thần quyết thắng, các phi công ta vẫn có thể bay được. Nhưng cần người có kỹ thuật sử dụng quen loại máy bay này mới có thể kiểm nghiệm chính xác. Mấy đồng chí cán bộ đoàn bay đang băn khoăn chưa biết chọn ai bay thử thì đồng chí Tư lệnh quyết định: “Cho Trần Ngọc Xanh và Trần Văn On bay thử!”. Sau giây phút cả Xanh và On sững sờ đã rất phấn khởi, hai mắt vụt sáng bừng lên: “Thế là cách mạng đã tin mình, mở đường cho mình đi!” Xanh kể với tôi: “Lúc ấy em càng thấy cảm phục cách mạng. Các anh ấy mới chỉ làm quen với loại A.37 này có ba ngày đã đi đánh bom rất chính xác. Bình thường bọn em chuyển loại lái máy bay khác cũng mất ít ra hai tháng. Hơn nữa, ông Tư lệnh chắc hiểu rằng: Với quãng đường mấy trăm ki lô mét, một mình một máy bay chúng em quá dư xăng dầu để bay từ Phan Rang về Sài Gòn. Nhưng chắc ông biết chúng em không bao giờ quay lại con đường phản nước, hại dân. Mặc khác, lúc ấy thế của cách mạng đã mạnh lắm nên ông mới quyết định cho chúng em mỗi đứa một máy bay như vậy…” Phải chăng vì Xanh đã chứng kiến khá tường tận cảnh tan rã của một quân đoàn tiền tiêu rất mạnh của ngụy và chính anh đã bị bỏ rơi. Hay vì thấy rõ thế đánh như chẻ tre của quân và dân ta, gần như mỗi ngày giải phóng thêm một tỉnh? Những sự kiện đó chắn chắn đã thức tỉnh Xanh. Nhưng điều làm Xanh mau nhìn ra được ánh sáng chân lý như chính anh ta đã nói là: “Sức mạnh của chính nghĩa qua con người của các anh đúng là vô địch. Qua các anh em đã được “bay” trong bầu trời rộng mở của Tổ quốc thân thương”. * * * Sau ngày Sài Gòn và miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đồng chí Tư lệnh quân chủng còn cho phép Xanh cùng các phi công trong Phi đội Quyết Thắng đi thăm thành phố. Xanh không có vinh dự như On được ngồi bên một phi công của ta tham gia phi đội Quyết Thắng ném bom sân bay Tân Sơn Nhất. Bữa ấy Xanh tha thiết được đi chiến đấu để chuộc tội, lập công. Nhưng ta đã đủ phi công cần thiết cho phi đội đi chiến đấu nên Xanh được chỉ định ở lại trong phi đội dự bị. Tuy vậy, khi đi thăm Sài Gòn, Tư lệnh vẫn cho Xanh đi cùng. Tới gần thành phố, Tư lệnh mang máng nhớ ra hình như Xanh cũng có gia đình ở Sài Gòn, đồng chí hỏi Xanh: -Cậu có vợ con ở đây không? -Dạ, ba má cháu ở Huế, nhưng vợ con cháu ở đây. -ở phố nào? -Dạ ở Trương Minh Giảng! Xanh tưởng ông Tư lệnh chỉ hỏi thăm tới mình như vậy đã là quá quý. Không ngờ ông Tư lệnh bảo đồng chí lái xe: - Đến Trương Minh Giảng dừng xe lại cho Xanh về thăm gia đình. Xanh nghe ông nói thế hồi hộp, xúc động quá! Rồi khi xe tới nơi, Tư lệnh lại bảo mấy phi công cùng đi: - Các cậu cùng vào với Xanh thăm gia đình. ở đó mười phút rồi ra ta đi thăm thành phố. Riêng Xanh cứ ở nhà, đợi anh em trở về cùng ra sân bay. Mấy phi công của ta đều nhận thấy rõ niềm vui đột ngột trên gương mặt Xanh. Các anh vui vẻ cùng Xanh vào nhà. Cửa mở, vợ Xanh – chị Phạm Thị Phương rồi cả ba má Phương đều sững sờ trước cảnh năm sáu anh Giải phóng tươi cười đến nhà mình. Phương tưởng như mình mơ, vì trong số các anh Giải Phóng đó có cả Xanh. Xanh cũng mặc quần áo giống các anh. Phải mấy giây sau, Phương mới thốt được lên: - Ôi, anh Xanh! Cả nhà bặt tin Xanh từ ngày ta giải phóng Đà Nẵng. Phương và ba má chị bao ngày lo âu, buồn bã cứ nghĩ rằng: Xanh đã chết hoặc bị Mỹ bắt “di tản” ra nước ngoài rồi. Ngờ đâu Xanh không những còn sống, được cách mạng khoan hồng, sử dụng lại đang ở trước mặt mọi người đây. Căn nhà hơn một tháng nay âm thầm đầy sự lo âu, bỗng chốc đầm ấm sôi nổi. Ba má Phương hết nhìn Xanh lại ngắm từng anh Giải phóng. Bà thốt lên với ông già: -Ôi, thế mà bọn họ nói xấu các anh Giải phóng hết lời. Nhìn đây đúng hai năm rõ mười. Anh nào cũng khỏe đẹp, vui vẻ, hiền lành, dễ thương vậy! Lúc Xanh sắp ra đi thì một anh Giải phóng vào bảo Xanh: - Thủ trưởng chúng tôi cho phép anh Xanh ở lại nhà đêm nay. Sớm mai có xe của đơn vị đi qua, Xanh sẽ theo xe về! Cả hai vợ chồng Xanh đều tưởng mình nghe nhầm. Đồng chí Giải phóng nhắc lại lần thứ hai. Vừa nói, vừa vui vẻ bảo Xanh: - Cứ yên chí nghỉ ở nhà với vợ con. Thủ trưởng nghe nói cháu bé thấy Xanh về cứ quấn chặt lấy ba cho nên để Xanh ở lại thêm cho nó đỡ nhớ ba mà! Cả nhà đứng nhìn theo anh Giải phóng mãi… Trần Ngọc Xanh kể lại chuyện “được về nhà” với tôi bằng giọng nói và ánh mắt xúc động như “chuyện lạ” này vừa xảy ra. Một năm sau, tháng 4 năm 1976, tôi tình cờ gặp lại Xanh trong một quán giải khát trên đường Nguyễn Văn Trỗi, Sài Gòn. Thấy tôi, viên phi công chế độ cũ có đôi lông mày nét mác rất rậm giao nhau, nhưng bộ mặt lại hiền lành mừng rỡ kể: “ Rất may cho em khi bị nhốt ở trại Phi Hổ được mấy anh Giải phóng chọn ra để góp phần nhỏ bé của mình vào trận ném bom sân bay Tân Sơn Nhất. Thế nên khi đi học tập cải tạo, em chỉ phải ở đó có mấy ngày rồi mấy anh ở trại cho về vì biết em đã tham gia vào sự kiện lịch sử này. Em nghĩ có lẽ còn một lý do nữa là: Các anh biết em đã được ở gần bộ đội Giải phóng hơn một tháng nên đó đã là trường cải tạo cho em rồi”. Tôi siết chặt tay đồng tình và mừng cho Xanh. Hà Bình Nhưỡng Việt Báo (Theo_Tien_Phong) Cuộn băng được ghi chiều ngày 28/4/1975, lưu lại phút xuất kích và lúc trở về của trận đánh bom Tân Sơn Nhất . Đây là lời kể trực tiếp của các phi công về trận đánh. Sơ đồ đường bay trận đánh bom căn cứ Tân Sơn Nhất chiều ngày 28/4/1975 Đến sáng 28/4, tại sân bay Thành Sơn, tất cả đã sẵn sàng đợi lệnh xuất kích. Cùng lúc đó trên khắp các mặt trận 5 cánh quân của 5 binh đoàn chiến dịch từ 5 hướng đang hình thành thế hợp vây nhằm đột phá vào nội đô để đánh chiếm 5 mục tiêu trung tâm đầu não hiểm yếu nhất của chế độ Sài Gòn. Chiều hôm ấy, theo kế hoạch đã định – sau khi báo cáo Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh chiến dịch về thời gian xuất kích, Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri đã ra lệnh cho Phi đội Quyết thắng từ sân bay Thành Sơn bắt đầu cất cánh lúc 16 giờ 30 để thực hiện phi vụ đặc biệt đánh bom vào căn cứ Tân Sơn Nhất – một trong 5 mục tiêu trọng yếu của chiến dịch. Phi vụ đặc biệt này đã được phái viên cơ quan Chính trị – Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân ghi âm lại trong cuộn băng với nhan đề “Trận đánh bom sân bay Tân Sơn Nhất”. Thu ngày 28/4/1975 tại sân bay Thành Sơn – Phan Rang. Trước lúc Phi đội Quyết thắng xuất kích, qua đoạn đầu băng ghi âm phát ra tiếng nói của một người tự giới thiệu tên là Nguyên – nhân viên kỹ thuật của quân đội Sài Gòn đã ra trình diện: “Tôi ở sân bay Đà Nẵng đã 8 năm, làm lính không quân chuyên sửa chữa động cơ máy bay. Sáng 29/3, khi Quân giải phóng vừa tấn công vô, các ông lớn ở đây đều chạy hết. Tôi ra trình diện và rất phấn khởi được cách mạng kêu lại phục hồi những chiếc máy bay đang hư hại nặng. ở Đà Nẵng có 10 chiếc A37 rất xấu, tôi chỉ sửa được 2 chiếc. Tiếp đó tôi được đưa vô sân bay Phù Cát sửa thêm 5 chiếc A37 nữa và bây giờ 5 chiếc này sẽ bay đi chiến đấu hôm nay”. Tiếng người nhân viên kỹ thuật (có tên là Nguyên) vừa nói đến đây, băng ghi âm bỗng rồ lên tiếng động cơ và tiếp đó có cả tiếng người giới thiệu: Đó là tiếng máy bay A37 đang phát động để các nhân viên kỹ thuật mặt đất kiểm tra lần cuối trước khi xuất kích. Băng ghi âm tiếp tục chạy qua mấy giây rồi dứt tiếng động cơ máy bay. Tiếp đến nghe thấy có tiếng sột soạt giở bản đồ. Một giây im lặng… băng lại phát ra tiếng nói trang nghiêm dõng dạc với giọng Quảng Trị của đại tá Lê Văn Tri(1) – Tư lệnh Quân chủng ra lệnh cho Phi đội Quyết Thắng: “Trước giờ phút lịch sử trọng đại này, để tham gia cùng các lực lượng giải phóng Sài Gòn, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam yêu quý của chúng ta, hôm nay, tôi thay mặt Bộ Tư lệnh quân chủng giao nhiệm vụ cho Phi đội Quyết Thắng: Một – các đồng chí phải hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao một cách xuất sắc. Hai – tập trung toàn bộ lực lượng của phi đội đánh vào khu tập trung máy bay của quân ngụy ở sân bay Tân Sơn Nhất. Thời gian xuất kích là mười sáu giờ ba mươi (16h30) ngày 28/4/1975. Chúc các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ và phải kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ”. Kế đó băng ghi âm phát tiếp với giọng nói Nam Bộ của Nguyễn Thành Trung bày tỏ quyết tâm: “Tôi thay mặt Phi đội Quyết thắng rất vinh dự được lãnh trách nhiệm của nhân dân giao phó nhằm đóng góp vào chiến công chung. Tôi xin hứa quyết tâm đánh thật bất ngờ, đánh thắng và mang lại kết quả nhiều nhất”. Tiếp theo là tiếng vỗ tay đồng loạt kéo dài trong phòng họp, rồi tiếng công tắc tắt máy. Dừng một đoạn, băng ghi âm lại phát ra lời giới thiệu hối hả đè trên nền tiếng động cơ máy bay đang phát động vang rền: “Bây giờ là mười sáu giờ ba mươi (16h30), Nguyễn Thành Trung số 1 dẫn đầu, Để số 2, Lục số 3, Vượng và On số 4, Quảng số 5… bắt đầu xuất kích”. Dứt tiếng người thuyết minh với giọng hồi hộp khẩn trương, tiếp theo là tiếng động cơ máy bay rít lên như xé không gian, rồi xa dần… xa dần… Sau đó tiếng công tắc ghi âm tắt máy. … Rồi máy ghi âm lại bật mở, nghe rộn ràng giọng nói gấp của người đang ở tại sân bay Thành Sơn – Phan Rang giới thiệu tiếp đã được ghi vào băng: “Chiều xuống, không gian trở nên yên tĩnh, mọi người có mặt tại sân bay lúc này đang hồi hộp, bồn chồn chờ đợi để tiếp nhận Phi đội xuất kích trở về… Đây rồi! Bây giờ là mười tám giờ ba mươi (18h30) trên bầu trời từ xa chúng tôi thấy đang xuất hiện hai chiếc A37 đầu tiên đã bật đèn đỏ xin hạ cánh. Cả sân bay chúng tôi đang hướng về phía đường băng. Tiếng động cơ đã vang trên bầu trời sân bay… Và tiếp theo… kìa, chiếc máy bay thứ ba cũng đã về…Kia nữa, chúng tôi đã thấy từ xa hai chiếc nữa cũng đang nối tiếp nhau bay về. Như thế là toàn Phi đội Quyết thắng đã trở về đầy đủ. Đẹp quá… Lúc này cả Phi đội đang hình thành đội hình bay qua sân bay chuẩn bị hạ cánh”. Băng ghi âm vẫn mở, tiếng động cơ máy bay to dần và lời người tường thuật đang phát tiếp: “Toàn phi đội đã hạ cánh an toàn trong tiếng hoan hô vang dội của mọi người đang lao nhanh ra chào đón những người chiến thắng trở về…Nguyễn Thành Trung đang báo cáo với Tư lệnh Quân chủng. Đồng chí Tư lệnh đang ôm hôn từng người trong Phi đội Quyết thắng…”. Tiếp theo cuộn băng phát rộ lên tiếng nói cười phấn khởi, hân hoan náo nhiệt, hòa với lời của các phi công mới hạ cánh cùng những người ở mặt đất– cả giọng Nam Bộ xen lẫn giọng miền Trung, miền Bắc, tiếng nói của cả ba miền rộn ràng, nhộn nhịp vui như ngày hội lớn. Sau đây là tóm lược lời thuật lại trận đánh của các phi công được ghi tại sân bay thành Sơn sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ trở về: “Chiều 28/4 thời tiết rất xấu. Khi máy bay đến Xuân Lộc nâng dần độ cao lên 2000 m, phi công ta không nhìn thấy mặt đất. Có lúc khoang buồng lái tối sầm lại vì phải chui qua đám mây đen. Trời đổ mưa. Phi công Nguyễn Thành Trung vẫn bình tĩnh dẫn đầu phi đội bay về phía Bà Rịa – Vũng Tàu rồi ngược lên Biên Hòa (xem sơ đồ đường bay). Trời vừa lóe ánh nắng thì phi đội cũng vừa đến đỉnh sân bay Tân Sơn Nhất, thấy rõ từng dãy máy bay, ô tô các loại dày đặc ở khắp nơi. Nguyễn Thành Trung báo mục tiêu cho toàn Phi đội, rồi nhằm đúng khu tập trung máy bay quân sự bổ nhào xuống cắt bom, nhưng bom không rơi. Trong ống nghe bên tai các phi công ta bỗng dội vào tiếng nói nhốn nháo, xôn xao của đám lính truyền tin dưới sân bay, rồi có tiếng ngơ ngác quát tháo của một sĩ quan ngụy hỏi: “A37 của phi đoàn nào? Phi đoàn nào?”. Lúc này Từ Để (số 2) vẫn bay sát theo máy bay số 1 nối tiếp bổ nhào xuống cắt bom, vừa nghe chúng nó hỏi nhau vậy, anh liền trả lời luôn: “Của phi đoàn America chúng mày đây!”. Tiếp theo Từ Để là Lục, Quảng, Vượng và On lần lượt nhào xuống cắt bom. Nguyễn Thành Trung quay lại lần thứ ba mới cắt luôn cả bốn quả bom rơi cùng một lúc. Tiếng nổ rung chuyển cả Sài Gòn. Sân bay Tân Sơn Nhất bùng phát những đám lửa, cột khói cuồn cuộn từ khu vực để máy bay C130, C47, A37 bốc lên”. *** Trở lại với Tổng hành dinh ở Hà Nội lúc bấy giờ, cũng qua hồi ức của Đại tướng Hoàng Văn Thái kể lại: Cuối buổi chiều hôm ấy 28/4, trong khi từ chiến trường chưa báo cáo ra kịp vì còn đang kiểm tra lại kết quả, thì qua các đài phương Tây, Bộ Tổng tham mưu đã được tin: Hồi 17 giờ, 5 chiếc máy bay phản lực A37 của Quân Giải phóng đã đánh bom sân bay Tân Sơn Nhất. Tin đầu tiên của các đài này cho biết nhiều máy bay trong căn cứ bị phá hủy – có cả máy bay C130 của Mỹ túc trực để thực hiện kế hoạch di tản. Cả Sài Gòn náo động vì bị đòn đánh bất ngờ này. Cũng từ Hà Nội, ngay tối hôm đó Tổng Bí thư Lê Duẩn đã cho gọi sĩ quan Cục Tình báo – Bộ Tổng tham mưu (Cục 2) sang nhà để báo cáo những thông tin mới nhất về địch sau khi căn cứ Tân Sơn Nhất bị không quân ta đánh bom. Qua các đài phương Tây và tình báo kỹ thuật ta, Cục 2 đã tổng hợp báo cáo nhiều tên tay sai ở Sài Gòn đã bỏ chạy ra nước ngoài, trong đó có Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên và Thủ tướng Nguyễn Bá Cần vừa từ chức, cùng 60 nghị sĩ. Tại Sài Gòn cuộc di tản đang diễn ra trong cảnh hoảng loạn, vì máy bay vận tải của Mỹ ở sân bay Tân Sơn Nhất đảm nhiệm chuyên chở di tản đã bị phá hủy trong trận bị đánh bom chiều 28/4, nên Mỹ phải sử dụng hàng loạt trực thăng dùng sân thượng các cao ốc làm bãi đáp để tiếp nhận người di tản ngay giữa trung tâm nội thành, cảnh tượng ấy càng làm cho Sài Gòn thêm hỗn loạn. Các hãng thông tin Mỹ, Anh, Úc, Nhật… đều loan tin cảnh náo động và tình trạng mất trật tự không thể kiểm soát được đang diễn ra. Và, cũng trong lúc này có tin Dương Văn Minh (nhậm chức Tổng thống chính quyền Sài Gòn đúng chiều 28/4 thay Trần Văn Hương) đã cử đại diện đến trại David ở Tân Sơn Nhất – nơi đóng trụ sở của phái đoàn quân sự ta (từ năm 1973 sau Hiệp định Paris), đề nghị “thương lượng” cho cuộc ngừng bắn nhằm hãm đà cuộc tấn công của quân ta và hòng vớt vát chút ít để khỏi mất hết. Vậy là tác động về tinh thần, trận đánh bom Tân Sơn Nhất góp phần tạo ra áp lực mạnh đối với nội các Sài Gòn trong cơn hấp hối trước cuộc tấn công như vũ bão của 5 cánh quân ta đang xốc thẳng vào nội đô. Được biết về sau qua kiểm tra của Bộ Tổng tham mưu ta và các sĩ quan không quân ngụy có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất lúc bấy giờ, sau khi ra trình diện ủy ban Quân quản TP Sài Gòn – Gia Định đã khai báo lại, trong trận tập kích bất ngờ này không quân ta đã đánh trúng cả khu để máy bay chiến đấu, phá hủy 24 chiếc các loại, một kho nhiên liệu chứa đầy xăng bốc cháy, hơn 200 lính ngụy chết, hàng trăm tên khác bị thương, số sống sót đều bỏ chạy tán loạn. Căn cứ Tân Sơn Nhất hoàn toàn tê liệt. Trận đánh đã hỗ trợ đắc lực cho bộ binh ta nhanh chóng phát triển đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy. Sau ngày giải phóng Sài Gòn và cả đồng bằng sông Cửu Long, khi đáp máy bay từ Hà Nội vào Sài Gòn để dự lễ mừng chiến thắng 30/4 và kỷ niệm 85 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5, Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã gặp gỡ, thân mật bắt tay biểu dương khen ngợi các phi công trong Phi đội Quyết thắng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ghi một chiến công đặc biệt của không quân Việt Nam trong mùa Xuân đại thắng 1975. Về cuộn băng ghi âm “Trận đánh bom sân bay Tân Sơn Nhất” ngày 28/4/1975 với thời lượng khoảng 60 phút đã ghi lại những giờ phút sôi động, hào hùng của chiến công oanh liệt này, nay đã trở thành một chứng tích lịch sử trong Bảo tàng truyền thống của Bộ đội Phòng không – Không quân Việt Nam Anh hùng. Ghi chép của Bùi Đình Nguyên (1) Kỳ 1 bài viết này có nêu đồng chí Lê Văn Tri là Thiếu tướng. Thực tế, lúc đó đồng chí mang quân hàm đại tá (TP) Kỷ niệm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam 22-12-2007: Bãi lắp đạn tên lửa trong rừng Sau đêm 19 rạng ngày 20-12-1972, tình trạng thiếu đạn đã trở nên phổ biến ở các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa. Để đảm bảo đủ tên lửa cho các đơn vị hỏa lực, mồ hôi và máu của các chiến sĩ phải đổ nhiều hơn. Đảm bảo cho thắng lợi Trung tướng Lưu Hữu Sắt, nguyên cục trưởng Cục Kỹ thuật phòng không - không quân, kể: "Tôi rất lo lắng cho việc chuẩn bị đạn tên lửa sẵn sàng cho việc đánh máy bay B-52 vào Hà Nội. Ngày 31-10-1972, Bộ tư lệnh quân chủng tổ chức chỉ đạo hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu và thông qua tài liệu "cách đánh B-52". Tư lệnh quân chủng Lê Văn Tri trực tiếp giao nhiệm vụ cho tôi chuẩn bị đạn tên lửa và anh em trong Cục Kỹ thuật đã xây dựng phương án bảo đảm đạn tên lửa cho chiến đấu". Các quả đạn tên lửa được tháo rời từng bộ phận, đóng hòm đến ga tàu phải sử dụng xe chuyên dụng vận chuyển những thùng đựng đạn, cánh tên lửa… di chuyển vào khu sơ tán cách nhà ga chừng 30 - 50 km, cất giấu tại nơi sơ tán rồi lại quay ra tiếp tục vận chuyển số tên lửa còn lại vào rừng. Tất cả đều phải làm đêm, làm sao trong một đêm phải giải phóng số đạn trên khỏi tàu hỏa để đối phương không phát hiện được. Sau đó các đơn vị lên nhận đạn tên lửa tại nơi sơ tán chuyển về đơn vị qua đường Đồng Đăng - Hà Nội hoặc Đồng Đăng về Hải Phòng. Việc vận chuyển ấy kéo dài 5-6 đêm mới xong, rồi tuần sau lại có chuyến tàu đến, công việc lại bắt đầu. Một quá trình chuẩn bị thật gian nan, vất vả và càng đòi hỏi hết sức tỉ mỉ. Bởi vì các bộ phận một quả tên lửa được đóng trong các hòm khác nhau, hòm đầu đạn, hòm đuôi, hòm cánh, hòm nhiên liệu… tài liệu lại không đi theo cùng, chuyên gia Liên Xô chuyển "lý lịch" từng quả đạn về Bộ Quốc phòng, từ đó mới phát xuống các đơn vị để lắp ráp tên lửa. Một điều đáng nói là không một quả tên lửa nào bị nhầm "lý lịch" hoặc lạc hòm. "Trong 12 ngày đêm đối phương tập kích đánh phá Hà Nội, điều làm tôi lo lắng nhất là việc bảo đảm sản xuất đạn tên lửa kịp cho các đơn vị hỏa lực. Những ngày đầu của chiến dịch 18, 19 và 20-12-1972, khi đối phương đưa máy bay B-52 vào ném bom Hà Nội, ta hoàn toàn không bị bất ngờ vì đã được chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, trong đó đạn tên lửa đã được chuẩn bị trước đủ bắn. Trong những đêm đó, mỗi một mục tiêu B-52 có khi phải bắn ba quả. Nhưng sau đêm 19, rạng ngày 20, tình trạng thiếu đạn đã trở nên phổ biến ở các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa" - ông Sắt kể. Lần lượt rời dây chuyền Những đứa trẻ còn sống sót sau trận bom B-52 của Mỹ ở khu An Dương, thành phố Hải Phòng năm 1972 Chiều 20-12, tư lệnh và chính ủy quân chủng trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông Sắt và phó cục trưởng Phan Thái phải tích cực giải quyết vấn đề sản xuất đạn tên lửa, bảo đảm cho nhiệm vụ đánh B-52. Anh Thái trực tiếp xuống chỉ đạo sản xuất ở tiểu đoàn kỹ thuật 95 ở phía bắc sông Hồng, còn ông Sắt cùng với phó phòng tên lửa Trần Trung Ngọc xuống tiểu đoàn 80 ở Phùng (Đông Anh, Hà Nội), nơi sản xuất đạn cho các tiểu đoàn hỏa lực H.57. Lòng như lửa đốt, ông Sắt vội xuống tận nơi kiểm tra. Hóa ra việc sản xuất tên lửa không kịp vì ba bãi để vật tư riêng lẻ, muốn lắp ráp sản xuất được một quả tên lửa chỉ có một dây chuyền. Muốn vận chuyển vật tư đến dây chuyền sản xuất bãi nào cũng cần phải có cần cẩu trong khi chỉ có một cần cẩu K61 duy nhất. Qua ba đêm làm việc cật lực, anh em quá mệt mỏi, mắt thâm quầng, chân tay rã rời. Thiếu đèn pin để làm đêm, thiếu vải bạt, nilông che mưa. Mặc dù tiểu đoàn phó Nguyễn Huy đã tổ chức phát động phong trào "Thi đua quyết thắng B-52", 100% quân số, kể cả anh em đang yếu mệt, đều công tác với quyết tâm cao nhưng năng suất sản xuất đạn tên lửa vẫn thấp. Ông Sắt đã thấy nhiều anh em ngủ gục bên máy. Tư lệnh Lê Văn Tri trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông phải chỉ đạo tìm phương án tháo gỡ với tiểu đoàn 80. Ông Sắt đề nghị tư lệnh quân chủng điều tiểu đoàn kỹ thuật của đoàn 274 vừa từ Quảng Trị ra đang chờ nhiệm vụ, tăng cường cho dây chuyền sản xuất đạn tên lửa của tiểu đoàn 80, điều đội lắp ráp đạn của Xưởng A31 xuống tăng cường tiếp cho tiểu đoàn 80. Việc sản xuất đạn tên lửa được chia một ngày ra ba kíp, dây chuyền liên tục làm việc tập trung tất cả vật tư của ba bãi lại một nơi. Theo đề nghị của Cục Kỹ thuật, Bộ tư lệnh quân chủng đã chỉ thị cho quyền cục trưởng hậu cần Mai Xuân Tiến tổ chức cho cơ quan mang đường, sữa, lương khô và cả thuốc chống buồn ngủ xuống các tiểu đoàn kỹ thuật cấp phát đến tận tay cán bộ, chiến sĩ. Họ làm việc lặng lẽ và quyết tâm. Những quả đạn mang dòng chữ "Trả thù cho đồng bào Hà Nội" bằng sơn trắng lần lượt rời dây chuyền sản xuất theo các xe TZM về các tiểu đoàn hỏa lực tên lửa. 35 năm sau, trên giường bệnh, ông đưa hai bàn tay lên trên không ra ký hiệu rồi đặt sang ngực trái của mình. "Ông ấy nói trái tim của ông là để dành cho Tổ quốc".
Danh Loi- - 28/02/2011 08:56
Ông Lê Văn Tri là một vĩ tướng rất nổi tiếng và rất vinh dự của làng Cao Lao Hạ. Bài phản hồi của độc giả Lê Quốc Cường đưa rất đầy đủ về vị tướng tài của làng. Theo tôi BBT nên cắt ra khỏi phần phản hồi, bổ sung và đưa lên thành bài chính thống trang trọng. Các thế hệ người con của Cao Lao Hạ rất tự hào về ông.
haild1960- - 05/03/2011 20:48
@ anh Danh Lợi và anh Lê Quốc Cường: Ban Biên tập đã có một loạt bài viết về Trung tuớng Lê Văn Tri cùng với nhật ký của Trung tướng và đã có kế hoạch đăng tải trong thời gian gần đây. Cám ơn góp ý của các anh
1, 2  Trang sau
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image