03:05 ICT Thứ sáu, 19/01/2018
Cao Lao, Hạ Trạch quê mình, Bốn bề phong cảnh hữu tình nước non

Giới thiệu Cao Lao Hạ»Cao Lao Hạ xưa

Hạo Quang Hầu - Lê Quang Thần và dấu “ Trung quân chi ấn” - 中 軍 之 印 trong tài liệu cổ của Làng Cao Lao Hạ.

Thứ sáu - 25/05/2012 13:29
Nghiên cứu của anh Trường Lưu Cao Lao về cụ:" Hạo Quang Hầu - Lê Quang Thần và dấu “Trung quân chi ấn” - 中 軍 之 印 trong tài liệu cổ của Làng Cao Lao Hạ"

 

Lời anh Trường Lưu Cao Lao gửi Ban biên tậpTôi không phải là nhà nguyên cứu nhưng thực sự rất tò mò muốn biết về những con người của mảnh đất Cao Lao. Xin gửi các anh bài viết :" Hạo Quang Hầu - Lê Quang Thần và dấu “ Trung quân chi ấn” - 中 軍 之 印 trong tài liệu cổ của Làng Cao Lao Hạ." mong các anh cho đăng lên caolaoha.com để ai đó sẽ có những nguyên cứu sâu hơn, rõ hơn về 1 con người mà ngay chỉ sắc phong không thôi cũng đã chỉ ra là 1 con người kiệt xuất của mảnh đất Cao Lao Hạ chúng ta. Thật đáng tự hào.

 

 

 

Khi TLCL tìm hiểu về văn tài liệu cổ của Làng Cao Lao Hạ- Bản đồ vùng hói phía trong đê đằng sau làng có cả vùng Hói Hạ thấy có con dấu “Trung quân chi ấn” - 中軍之印đóng dưới dòng chữ Gia Long nhị niên tam nguyệt sơ lục nhật (năm Gia Long thứ 2 ngày 06 tháng 03 – 06/03/1803) . Tìm hiểu thêm về các ấn chương triều Nguyễn - nhất là dưới thời Nguyễn Ánh - Gia Long có mấy suy nghĩ như sau:

 

Khi Nguyễn Phúc Ánh xưng vương ở Sài Gòn (năm 1780) thì quân đội nhà Nguyễn đã được tổ chức và trang bị tương đối đầy đủ. Biên chế quân đội Nguyễn theo hình thức Ngũ chế, mỗi bậc chia làm năm: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu. Cấp Quân là cấp cao nhất và được chia làm năm Quân: Trung quân, Tiền  quân, Tả quân, Hữu quân và Hậu quân. Mỗi Quân có một viên Chưởng phủ sự hay một chức Đô thống đứng đầu, thường được ghi là Đô thống phủ chưởng phủ sự. Có binh chủng đặt Doanh không đặt Quân, cấp Doanh nhỏ hơn cấp Quân, mỗi Doanh có 5 Vệ đều do một chức Đô thống hay một quan Thống chế chỉ huy, dưới cấp Quân, Doanh là cấp Vệ hoặc Cơ, dướiVệ, Cơ là cấp Đội, Thuyền.

 

Sau này khi chiến tranh chấm dứt, nhà Nguyễn đặt riêng lực lượng quân đội ở kinh gồm ba loại: Thân binh, Cấm binh và Tinh binh. Mỗi Binh chia làm các Doanh, Vệ hoặc Viện, thuộc cấp có các Đội, Ban. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đặt cấp tỉnh, đứng đầu quân binh ở tỉnh là chức Đề đốc hoặc Lãnh binh, Phó Lãnh binh, tùy từng tỉnh lớn hay nhỏ mà đặt cấp số Vệ, Cơ, Đội nhất định.

Hàng ngũ tướng tá trong quân đội, từ Đại tướng đứng đầu Quân cho đến Viên chỉ huy ở cấp Đội,Thuyền đều được ban cấp ấn kiềm, Quan phòng hoặc Đồ ký để dùng trong việc quân binh. Mặt ấn dấu thường khắc tên đơn vị, tên chức vụ, hoặc cả tên đơn vị và tên chức vụ trong một quả ấn.

 

Thời Gia Long Nguyễn Ánh cho đến giai đoạn đầu triều Minh Mệnh, tướng lĩnh trong quân đội giữ vị trí then chốt trong chính quyền. Hầu hết các Đại tướng đứng đầu năm Quân đều là những đại thần quan trọng của triều đình. Chức vụ và quyền hạn của tướng lĩnh hơn hẳn các văn quan mặc dầu phẩm trật có ngang nhau. Sự biến đổi từ những đại tướng cầm quân trong chiến trận trở thành viên quan cai trị về mặt hành chính các cấp là đặc trưng nổi bật của tổ chức hành chính quan chế đầu thời Nguyễn.

 

Như vậy như trên đã giải thích khi lập nước Quân đội của Nguyễn Ánh có 5 quân: Trung quân, Tiền  quân, Tả quân, Hữu quân và Hậu quân. Nhờ các dấu ấn còn sót lại và các ấn chương người ta đã rõ chủ nhân của các con dấu  Tiền  quân, Tả quân, Hữu quân. Củ thể:

 

1-/ Tiền quân chi ấn 前軍之印(ấn của Tiền quân).

Đó là dấu của Đại Tướng Tiền Quân - Nguyễn Văn Thành

 

Nguyễn Văn Thành ( 阮文成; 1758-1887 ) là một trong những vị khai quốc công thần của triều Nguyễn đồng thời là một trong những người có công lớn nhất trong việc đưa Nguyễn Phúc Ánh  lên ngôi, trở thành vị vua đầu tiên (vua Gia Long) của triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam (1802-1945).

 

Tiền quân Nguyễn Văn Thành sinh năm Đinh Sửu ( 1757 ) , tiên tổ của ông người Quảng Điền , phủ Thừa Thiên , tằng tồ là Nguyễn Văn Toán dời vào Gia Định . Sử cũ ghi : Nguyễn văn Thành trạng mạo đẹp đẽ , tính trầm nghị , thích đọc sách , tài võ nghệ . Năm 1773 , ông cùng cha là Nguyễn Văn Hiền ra tận đất Phú Yên ngày nay để theo Định vương Nguyễn Phúc Thuần chống Tây Sơn . Khi quân Tây Sơn đánh úp Phú Yên vào tháng 7 năm Ất Mùi 1775 thì cha ông bấy giờ là Cai đội tử trận , ông theo một viên quan váo giúp việc giữ đất Phan Rí ; sau ông được chúa Nguyễn Phúc Ánh triệu về . Từ đó , ông lập được nhiều chiến công hiển hách . Năm 1801 , ông lãnh ấn Khâm sai Chưởng Tiền quân , Bình Tây Đại tướng quân , tước Quận công . Ông sau bị xử tội chết vì một oan án xuất phát từ một bài thơ.

 

Hình dấu ấn triện công văn (前軍之印), in trong tập Công văn cựu chỉ, do tiền quân Nguyễn Văn Thành đóng vào thời điểm năm Gia Long thứ nhất (1802), với kích cỡ 9,3x9,3 (cm) màu đỏ.

 

2-/ Hữu quân chi ấn 右軍之印(ấn của Hữu quân)

Đó là dấu của  Khâm sai chưởng Hữu quân Bình Tây tướng quân- Nguyễn Văn Nhân.

 

Nguyễn Văn Nhân theo binh nghiệp từ thuở còn trẻ, thời chúa Duệ Tông đã giữ chức Cai đội. Năm 1778 Nguyễn Ánh được tôn làm Đại nguyên soái và thăng Nguyễn Văn Nhân lên chức Khâm sai Cai cơ vệ Thần sách dinh Trung quân. Trải hơn 20 năm trận mạc, trung thành với Nguyễn Ánh và với nhiều chiến tích, khi chiến tranh chấm dứt, Nguyễn Văn Nhân làm tới chức Khâm sai chưởng Hữu quân Bình Tây tướng quân. Là một trong năm tướng cao cấp nhất đứng đầu Năm quân. Khâm sai chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân được sử dụng bộ ấn lớn "Hữu quân chi ấn" và Kiềm nhỏ đóng hai chữ Triện "Hữu quân".

 

3-/ Tả quân chi ấn 左軍之印(ấn của Tả quân).

  

Đó là dấu của Khâm sai chương Tả quân Bình tây tướng quân-  Lê Văn Duyệt.

 

Tả Quân Lê Văn Duyệt sinh vào năm Giáp Thân 1764 ở làng Hòa Khánh, tỉnh Định Tường, Đây là vùng đất thuộc Trấn Định Tường ( một trong 4 Phiên trấn đầu tiên của Nam kỳ lục tỉnh). Từ năm 1780, khi mớI 17 tuổI, có cơ duyên gặp Vua Gia long trên đường chạy lọan, Ngài Lê Văn Duyệt xin theo hầu binh và dần dần trở thành một trong Năm vị Đại Công thần khai quốc của Nhà Nguyễn Gia Long.

 

Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Nhân và Lê Văn Duyệt là những tướng tài có nhiều công trạng  đối với việc thành lập cũng như củng cố Triều Nhà Nguyễn . Đấy là những bậc công thần mà sử sách đã ghi chép rất nhiều.Họ đều là những Đại tướng đứng đầu một trong các Quân, khi được phong chức các tướng trên đều được nhận ấn tín.

 

Thế còn dấu  “ Trung quân chi ấn” - 中軍之印trong tài liệu cổ của Làng Cao Lao Hạ là của ai? Liệu có liên quan gì đến ngài Hạo Quang Hầu - Lê Quang Thần không?.

 

 

Có mấy lý do để khẳng định là  ngài Hạo Quang Hầu - Lê Quang Thần dính dáng đến con dấu này.

 

1-/ Ngài Lê Quang Thần là người Cao Lao Hạ và đây là Bản Đồ vẽ về Vùng Cao Lao Hạ.

 

2-/ Trong sắc phong cho Lê Quang Thuần có ghi ông Lê Quang Thần được phong chức chỉ huy trưởng Vệ Hầu Lý tước Hạo Quang Hầu trực thuộc Đạo Trung Quân do nhà vua trực tiếp sai phái việc quân (Theo sắc phong cho ông Lê Quang Thần đề ngày ngày 3/5 năm Gia Long thứ nhất- 1802)- ( Gia phả họ Lê Quang-Nguyễn Văn Đức).

 

3/- Nếu là chức Vệ thì còn nhỏ hơn chức Doanh mà Doanh còn nhỏ hơn Quân. Nhưng sao ông lại được phong Hầu và Bản Đồ làng ông lại đóng dấu “ Trung quân chi ấn” - 中軍之印?

 

4/- Có tài liệu nói Hậu Quân  chỉ huy là Võ Tánh và như thế tính danh 4 trong 5 quân đã rõ thế thì dấu “ Trung quân chi ấn” - 中軍之印  thực sự là của ai? Ai là người chỉ huy Trung Quân vào thời gian này?

 

Trong các comments về tài liệu cổ Làng Cao Lao Hạ  có nói đến chuyện truyền ngôn về việc nhờ ông Lê Quang Thuần dành lại Đất Hói Hạ cho làng Cao Lao Hạ và tấm bản đồ có đóng dấu  “ Trung quân chi ấn” - 中軍之印  - TLCL phán đoán rằng ông là 1 nhân vật rất có ảnh hưởng trong triều Nguyễn thời bấy giờ. Cũng có thể ông là chỉ huy Trung Quân lúc bấy giờ.  Tìm lại những tài liệu để biết được nhiều hơn về ông biết đâu ta sẽ có những chứng cứ liên quan đến việc phân xử về vùng Hói Hạ năm xưa mà nhờ uy tín của ông mà vùng đất đó thuộc về Cao Lao Hạ.

Tác giả bài viết: Trường Lưu Cao Lao

Thuần Việt- - 25/05/2012 21:17
Các cao thủ đang ngâm cứu hay sao mà chưa lên tiếng hè ?Bài ni đúng là bới đất tìm cổ vật
truongluu caolao- - 27/05/2012 21:21
Việc tìm lại gốc tích “ tiểu sử “ của Hạo Quang Hầu – Lê Quang Thuần thực sự là khó khăn. Nhưng vì khó khăn nên nghi vấn trong tôi lại càng lớn. Tại sao 1 người được phong tước Hầu vào thời Gia Long- Nguyễn Ánh làm ở trong đạo Trung Quân mà lại không lưu lại gì trong sử sách. Bởi vì “Hầu”: tên tước phong, là tước đứng hàng thứ hai trong ngũ tước triều Nguyễn: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam thời Nguyễn Ánh chỉ đến thời Minh Mệnh về sau ít dùng chỉ phong cho những người trong hòang tộc, người đã chết hay những người có huân công lớn đối với triều đình.( Như trường hợp vua Minh Mệnh phong cho 3 vị công thần là võ tướng đứng đầu 3 đạo quân lớn lúc bấy giờ là Tiền quân, Trung quân và Hậu quân vào mùa xuân tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) đó là Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự là Trần Văn Năng, Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự là Tống Phúc Lương, thự Hậu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự là Phan Văn Thú- Trần Văn Năng làm Lương Tài hầu, Tống Phước Lương làm Vĩnh Thuận hầu, Phan Văn Thúy làm Chương Nghĩa hầu.). Theo qui định của triều Nguyễn thì người mang tước Bá được mang tên một Tổng, tước Hầu được mang tên một huyện, Thế vậy Hạo Quang có phải là tên 1 phủ, huyện nào thời bấy giờ không? TLCL- tôi không tin 1 con người có danh như vây mà không được lưu truyền. Do vậy, nghiên cứu về thời kỳ này, bên cạnh nguồn sử liệu chính thống còn phải dựa vào nhiều nguồn tư liệu khác trong đó các tư liệu riêng lẻ như các sắc, chỉ, sai, phó, những câu chuyện truyền miệng…cũng là nguồn liệu giúp so sánh, đối chiếu và bổ sung thêm những cứ liệu mà chính sử chưa ghi rõ hoặc bỏ quên. Việc tìm hiểu không những chỉ là để thỏa chí tò mò mà còn là nhiệm vụ của các thế hệ con cháu. Tôi mong những người mà từ trước tới nay đau đáu những suy tư muốn làm rõ cội nguồn của mảnh đất địa linh Cao Lao Hạ như các anh Danh Lợi, Anh Cảnh Giang, Anh Lê Chiêu Phùng, Lê Chiêu Chung,QuyThaiST, Tuan65, Anh Lê Hồng Vệ và cả anh Lưu Đức Hải, anh Nguyễn Văn Đức… tìm hiểu và có ý kiến về việc này. Tranh luận, phản biện giúp ta tìm được lối đi trong việc tìm kiếm này chăng? Dẫu còn rất ít các manh mối và tài liệu nhưng thế hệ ta nhất định còn nhiều tư liệu về việc này hơn là các thế hệ sau.Tại sao ta lại không làm. Không phải lúc nào cũng thành công nhưng đã là nghĩa vụ thì đó phải được xem là bổn phân.Đôi khi thất bại của chúng ta giúp thế hệ tâm huyết đời sau giảm bớt thời gian trên con đường đi tìm chân lý, tìm sự thật. Mấy lời tâm huyết. Thật là vui nếu được các anh đồng tình. Thân mến . TLCL.
Nguyễn Văn Đức- - 28/05/2012 15:31
Tại bản đồ Hói Hạ có hai con dấu, trong suy nghĩ của tôi trước đây vì " mù chữ" nên cứ nghĩ đó là dấu của Vua Gia Long và Vua Cảnh Hưng. Nhưng theo anh TLCL thì một dấu ( Trung quân chi ấn) là dấu của quan chỉ huy Đạo Trung quân. Đề nghị anh cho biết thêm dấu thứ hai là của ai Để anh và cộng đồng hiểu thêm về nhân vật lịch sử Lê Quang Thần tôi xin cung cấp một số bản dịch Sắc, Chỉ, Sai liên quan đến Ông ( bản dịch của hội hán nôm Quảng Bình) 1.Chiếu mệnh cấp cho quan chỉ huy đội Hầu Lý thuộc Đạo Trung quân là ông: Lê Quang Thần đã có nhiều công lao trong quá trình phục vụ quân đội, được phong chức chỉ huy trưởng vệ Hầu Lý Tước Hạo Quang Hầu trực thuộc Đạo Trung quân do nhà vua trục tiếp sai phái vệ quân. Trước hết nêu cao mẫu mực hết lòng phục vụ quân đội, sớm lập chiến công, đánh tan giặc giữ, bảo vệ đất nước... Ngày 3/5 năm Gia Long thứ nhất 2. Quan khâm sai chỉ huy Đạo Trung quân là Bình Tây Đại Tướng quân Tước Quận Công xem xét về các quan lại, Khiến: Quan Cựu Đô úy Lê Quang Thần quê ở Hạ Thôn của xã Cao Lao, thuộc Châu Bảo Chánh đích xác là người tài giỏi có tiếng mẫu mực về tư thế phong độ...., với chức danh là chỉ huy trưởng vệ Hầu Lý thuộc Đạo Trung quân, được phong tước Hạo Quang Hầu Ngài có nhiệm vụ chỉ huy đội quân của mình đi theo đạo quân đánh giặc lập công lớn để giữ miền tây đất nước.... Ngày 20 tháng 6 năm Cảnh Hưng thứ 62 (1802) 3. Quan khâm sai Đô Thống Chế Vân Long Hầu thay mặt nhà vua làm bảng kê xem xét các quan lại, Hạo Quang Hầu Lê Quang Thần là cấp chỉ huy trưởng thuộc ngạch quân trung doanh trại của Đạo Trung Quân ... Từ năm Tân Dậu vào ngạch lính tình nguyện ở đội Hầu Lý thuộc Đạo Trung Quân. Năm Quý Hợi được phong chức trưởng hiệu chỉ huy đội ứng sai hiệu. Năm Canh Thìn 1820 được triệu về kinh chỉ huy đội quân cơ động bảo vệ Hoàng cung. 1821 bị bệnh về quê an dưỡng mất vào ngày 29 tháng giêng ở quê nhà. Quan trưởng chỉ huy Hạo Quang Hầu Lê Quang Thần hưởng thọ 67 tuổi ... Ngày 11 tháng 3 năm Minh Mạng thứ hai (1821) ... Quan khâm sai Đô Thống Chế Vân Long Hầu đóng dấu ký tên Trong Gia Phả Họ Lê Quang còn có nhiều nhân vật lịch sử khác trong triều Nguyễn xin phép sẽ đề cập sau Theo sắc phong trên thì chỉ huy Đạo Trung Quân là quan khâm sai Bình Tây Đại Tướng Quân Tước Quận Công đề nghị anh TLCL, Lê Chiêu Chung và bà con tra cứu lịch sử xem ngài có tên Húy là gì. Trân trọng cảm ơn!
Lê Chiêu Chung- - 28/05/2012 23:24
Thời gian qua tui cố gắng sắp xếp thời gian để tra cứu các bộ sử ký như "Việt Nam sử lược", "Đại Việt thông sử", "Quốc triều chánh biên toàn yết", "Việt sử toàn thư", trong giai đoạn này các sách đều chép gần giống nhau là chưởng cơ Trung quân là Nguyễn Văn Trương. Tui xin trích một số đoạn. Trong "Việt Nam sử lược" của Trần Trọng Kim có đoạn: "11. Trận Trấn Ninh. Từ khi thất thủ Phú Xuân, vua Cảnh Thịnh ngày đêm kíp ra Bắc Hà, đổi niên hiệu là Bảo Hưng và truyền hịch đi các trấn để lấy viện binh rồi sai em là Nguyễn Quang Thùy đem binh mã vào giữ Nghệ An. Đến tháng 11, vua Tây Sơn đem quân 4 trấn ở xứ Bắc và quân Thanh Hóa, Nghệ An, cả thảy được non 3 vạn người, sang sông Linh Giang. Lại sai tướng đem hơn 100 chiếc chiến thuyền vào giữ cửa Nhật Lệ. Bấy giờ có vợ Trần Quang Diệu là Bùi Thị Xuân cũng đem 5.000 thủ hạ đi tòng chinh. Quan Chưởng Trung Quân Bình Tây Đại Tướng Quân Nguyễn Văn Trương, cùng với Tống Phúc Lương, Đặng Trần Thương giữ ở Linh Giang, thấy quân Tây Sơn thế mạnh phải lui về giữ Đồng Hới. Nguyễn Vương được tin ấy, liền thân chinh đem đại binh ra tiếp ứng, sai Phạm Văn Nhân và Đặng Trần Thường đem quân ra giữ mặt bộ, sai Nguyễn Văn Trương ra giữ mặt bể. Tháng giêng năm nhâm tuất (1802), vua Tây Sơn sai Nguyễn Quang Thùy tiến quân lên đánh lũy Trấn Ninh; đánh mãi không đổ. Vua Tây Sơn đã toan rút quân về, nhưng Bùi Thị Xuân không chịu, xin cho ra đốc quân đánh trận. Đánh từ sáng sớm đến chiều tối, chưa bên nào được thua. Bỗng có tin rằng thủy quân của Tây Sơn ở cửa Nhật Lệ (cửa Đồng Hới) đã bị Nguyễn Văn Trương phá tan cả. Quân Tây Sơn khiếp sợ bỏ chạy, tướng là Nguyễn Văn Kiên về hàng nhà Nguyễn. Vua Tây Sơn đem tàn quân chạy về Bắc, để Nguyễn Văn Thận ở lại giữ Nghệ An. Nguyễn Vương phá được quân Tây Sơn ở thành Trấn Ninh rồi đem quân về Phú Xuân, để trung quân Nguyễn Văn Trương giữ Đồng Hới, để Tống Phúc Lương và Đặng Trần Thường giữ Linh Giang. Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng ở Quy Nhơn được tin quân Tây Sơn thua ở Trấn Ninh, liệu chống không nổi, bèn đến tháng 3 năm nhâm tuất (1802) bỏ thành Quy Nhơn, đem binh tượng đi đường thượng đạo qua Ai Lao ra Nghệ An, để hội với vua Tây Sơn mà lo sự chống giữ...". Trong "Việt sử toàn thư" của Phạm Văn Sơn có đoạn chép: "Phần 3 - Chương 22/ 2- Bộ Máy Chính Quyền Trung Ương: Vua Gia Long không đặt ngôi hoàng hậu trong nội cung, và chức Bồi tụng, hay Tham tụng (tức là chức Tể tướng) ngoài triều đình để tránh những ảnh hưởng quá lớn về chính trị, do đó chỉ có chức Hoàng phi và cung tần trong biệt điện, việc nước thì có Lục bộ phụ trách. Mỗi bộ có một vi Thượng thư đứng đầu gồm Tả Hữu Tham Tri Tả, Hữu Thị Lang cùng các thuộc viên Lang Trung, Viên Ngoại Chủ Sự, bát cửu phẩm, thơ lại v.v... Sáu bộ là: 1) Bộ Lại trông coi việc bổ dụng, thuyên chuyển, ban thưởng phẩm trật, khảo xét công trạng, phong tặng ấm tước, thảo các chiếu, sắc, dụ v.v... 2) Bộ Hộ chịu trách nhiệm về các việc đinh điền, thuế má, tiền bạc, kho tàng, hóa vật như bộ Tài chính và Kinh tế ngày nay. 3) Bộ Lễ lo việc tế tự, triều hạ, tôn phong, triệu hội, học chế, khoa cử, phong sắc cho bách thần, khen tặng các người sống lâu, tiết hạnh. 4) Bộ Binh bổ dụng, tuyển mộ binh tướng, tổ chức quân đội, mở các cuộc thao diễn, lập khoa thi võ cử, ban bố các mệnh lệnh hành quân v.v... 5) Bộ Hình xét hình án, sửa sang pháp luật, duyệt lại các án từ đáng nghi ngờ hay các đơn kháng tố tối cao. 6) Bộ Công phụ trách các công tác xây dựng cung điện, thành trì, hào lũy, tự tạo tàu bè, nghiên cứu các kiểu mẫu lăng tẩm, công thự, mua bán vật liệu, thuê mướn thợ thuyền. Để kiện toàn việc chính trị cũng như hành chính, nhà vua lập Đô sát viện gồm Tả, Hữu Đô Ngự Sử và Tả, Hữu phó Đô Ngự Sử đứng đầu, cơ quan này giống như Nha Thanh Tra hành chính và chính trị đời nay nhưng rộng quyền hơn là có quyền cản ngăn nhà vua và đàn hặc các quan lớn, nhỏ nếu thấy việc gì trái với phép nước về phương diện này hay phương diện khác. Xét trong triều Gia Long bấy giờ chưa có quan nhất phẩm về hàng văn, các quân nhân hầu hết giữ các việc trọng yếu, có lẽ do tình thế đặc biệt buổi đó. Các việc thưởng phạt, truất biếm, bãi miễn đều có những thể lệ rõ ràng để tránh những việc lạm quyền và thiên vị…. Cấp bậc về Võ ban: cũng như về Văn ban có 9 bậc: mỗi bậc có chánh, có tùng (phó). Cao nhất là: Trung quân, Tiền quân, Tả quân, Hữu quân, Hậu quân. Chức này vào cấp tướng coi một đạo quân gồm 8 đại đội và 9 cơ ( mỗi cơ có 60 binh sĩ ). Mỗi đạo quân có một số tượng binh...". Tui không thấy các thư sử ghi các sử kiện có tên của vị Chỉ huy vệ lý hầu Lê Quang Thần của làng ta. Còn thắc mắc con dấu thứ hai tui có ý kiến thế này: Các kiểu chữ nho có loại chữ "Thảo thư" ai viết nấy đọc. còn kiểu chữ "Triện thư" khắc trong con dấu như các đoạn dây thừng, tui không giám đoán bừa vì thấy thừa nét. Như chữ Trung có thừa 2 gạch, chữ Quân thì bộ Đầu phủ kín bộ Xa nhưng eng TLCL vẫn đọc được "Trung quân chi ấn", vậy cái ấn thứ 2 mà eng NVĐ hỏi tui cũng đọc là "Giám quân chi ấn". Rất mong được xem trực tiếp các sắc phong mà eng NVĐ mô tả./.
leman- - 29/05/2012 15:57
Làng miềng có thêm bài học lịch sử rất bổ ích.Nhân chứng vật chứng cụ thể.Các nhà "khảo cổ của làng"thật công phu "nói có sách ,mách có chứng"đã tìm thêm một "kì tích lịch sử ",mọt bài học vô giá cho chúng tôi và con cháu mai sau .Cảm ơn các eng nhiều.
1, 2  Trang sau
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image
  • image